Sự bất cập của giáo dục bắt nguồn từ đâu?

Báo chí bấy lâu nay bàn luận nhiều về hiện tình và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục, đào tạo. Ý kiến phần nhiều là tâm  huyết, có trách nhiệm. Tất thảy là nhằm làm cho lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm này càng ngày càng đáp ứng những đòi hỏi cao, cấp thiết của công cuộc đổi mới. Đánh giá hiện trạng của giáo dục, tôi không muốn dùng từ xuống cấp. So với các giai đọan trước, những thành tựu của giáo dục là to lớn và dễ thấy. Sao có thể bảo là xuống cấp cho được! Tôi cũng không thích dùng từ tụt hậu. Đâu là ngưỡng để đánh giá ta là tụt hậu hay không tụt hậu đây? Thích hợp nhất có lẽ là từ kém phát triển. Ấy là ta so với nhu cầu của nền giáo dục hiện đại mà tất cả các nước tiên tiến trên  thế giới đang mong mỏi xây dựng. Tuy, theo tôi, từ bất cập hình như đắc dụng hơn. Ở đây, ta lấy chính nền giáo dục như ta mong ước để  xét đóan.

Vâng, quả thật là có nhiều, rất nhiều điều bất cập. Đáng phàn nàn là tình trạng này đã kéo dài quá lâu. Trong khi phải nói là xã hội ta, nhà nước ta với tinh thần coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, ngày càng quan tâm, đầu tư nhiều cho lĩnh vực này. Có người bảo khỏang 20 % tổng ngân sách quốc gia cho giáo dục là vẫn còn ít; càng ít hơn so với các nước phát triển. Tôi không nghĩ vậy! Nên xuất phát từ hòan cảnh cụ thể của nước ta. Trong giai đọan tích lũy ban đầu, tỷ lệ ấy là thật sự đáng kể. Vấn đề là ta đã sử dụng vốn ngân sách ra sao? Đầu tư đã đúng hướng và có hiệu quả hay chưa? Để trả lời câu hỏi đó, trên lĩnh vực nghề nghiệp, ít nhất ta cần soi rọi từ 3 phương diện chính yếu: mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. Gốc gác, ai cũng biết là ở mục tiêu. Cái đích có chuẩn mực và phù hơp thì mới có thể nói tới những điều tốt đẹp tiếp theo. Tôi xin tập trung bàn về điểm cốt lõi này.

Nếu giờ đây, ta có hỏi những người chịu trách nhiệm cao nhất về mục tiêu từng giai   đọan mà nền  giáo dục nước nhà cần hướng tới là gì thì chắc chỉ nhận được những câu trả lời chung chung, đặt vào đâu và lúc nào trong lịch sử phát triển hiện đại của dân tộc cũng đều đúng cả. Điều 2, Chương I, Luật Giáo dục đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển tòan diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.  Rồi các điều khác của Chương II, Luật Giáo dục có nói rõ mục tiêu của Giáo dục Mầm non, Phổ thông, Nghề nghiệp và Giáo dục Đại học và Sau đại học. Tuy nhiên, do là luật, văn bản chính thống này không thể cụ thể hóa mục tiêu từng cấp học, bậc học cho từng giai đọan được.Trong khi, cái ta cần lúc này là tính xác định lịch sử của mục tiêu kia! Nhất là khi nước ta đã chính thức gia nhập WTO, thật sự bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng chưa từng có như hiện nay.

Kể ra, đã có không ít hội nghị, hội thảo khi rộng  khi hẹp, trực tiếp hoặc gián tiếp bàn về điều này. Các kết luận thường sơ sài, qua quýt quá. Rất ít những khái quát rốt ráo giàu ý nghĩa thực tiễn. Đặc biệt, chưa rút ra, rồi nâng lên thành những quy định mang tính pháp lý. Rồi sau nữa là cần có thật nhiều những biện pháp tương thích đi kèm. Hiệu quả các hội nghị, hội thảo chuyên đề còn rất thấp là vì thế. Cũng đã có không ít ý kiến của các nhà khoa học và giáo dục bàn sâu về những phẩm chất cần có của con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Rất nhiều đề xuất quý giá. Tiếc là chưa được những người có trách nhiệm thật chăm chú lắng nghe. Rốt cuộc, diễn đàn thì nhiều mà tiếp thu trên cơ sở phân tích, lọc lựa thì ít, lời nói đáng suy ngẫm thường rơi vào thinh không một cách vô nghĩa. Chẳng hạn, các ý kiến chú trọng tới việc bồi dưỡng, trau dồi tư duy uyển chuyển, linh họat gắn với tinh thần sáng tạo vô hạn của con người hiện đại. Phải nói, ta rất cần tư chất này. Lĩnh vực nào cũng thế. Lại là cái ta rất thiếu, nếu không nói là thiếu nhất. Cuộc sống thường xuyên nảy sinh những vấn đề. Mỗi lúc, mỗi nơi, mỗi lĩnh vực một khác. Từng người phải tự giải đáp lấy. Học đời học người, học xưa học nay chỉ là tiền đề giúp đưa ra những câu trả lời cụ thể cho thật thấu đáo. Kinh viện sách vở sao được! Bắt chước người khác sao được!

 Điều này có liên quan mật thiết đến cách dạy, cách học và đã được đặt ra từ khá sớm ở nước ta. Chỉ xin được dẫn ra một ví dụ: Nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ. Ông coi trọng sự nghiệp canh tân giáo dục ngay khi nước nhà còn ngập chìm trong nạn ngọai xâm vào giữa thế kỷ XIX. Ông nói:“Học tập bồi dưỡng nhân tài là con đường đưa đến dân giàu nước mạnh”. Ông đồng thời đề xướng việc thay đổi nội dung sách giáo khoa, thêm các môn khoa học tự nhiên, đặc biệt là việc sửa đổi chế độ thi cử, đào tạo con người thay thế nền học cũ cùng lối học cũ: “Cổ lai các nước trong thiên hạ chưa từng có cái học như thế, thật là lạ lùng”. Cũng thật sát hợp với cái nhìn có phần khách quan của Jean Marquet trong bài diễn thuyết Tiền đồ nước Nam” đọc tại Hội Trí tri , Hà Thành, vào năm 1925. Về giáo dục, ông bảo người nước ta chưa biết cách học: “Người Tàu ngày xưa sang chiếm nước các ông, truyền cho các ông học thuật văn minh của họ. Kết quả người Annam ngày nay cũng vẫn khờ khạo như xưa…Vì, khốn thay, nhiều người Annam chỉ cầu cho có học để lợi dụng kẻ vô học mà thôi”… Rồi, ông thẳng thừng đưa ra một nhận xét: “Tôi muốn nói thật một câu này: Mỗi người Annam là một ông quan ngầm đó, ai cũng có cái hy vọng làm quan hết cả”…  Chẳng phải ngẫu nhiên mà chính nhà văn Nguyễn Khải mới đây cũng phải chua xót thừa nhận: “Tuy tôi sinh sau bài diễn thuyết này tới 5 năm nhưng cũng là đứa trẻ nô lệ 15 năm, tôi nhận ra Marquet nói có một phần sự thật của cái tình cảnh khốn quẫn cả về vật chất và tinh thần của dân ta thuở ấy” (Báo Văn nghệ, 16 / 2000). Đào luyện tinh thần và ý chí sáng tạo cho người học gần như là một yêu cầu chung mang tính bắt buộc đối với công cuộc đổi mới giáo dục ở mọi nước. Trong một bài viết bàn về giáo dục có tiêu đề rất đáng suy ngẫm Không phải là môn học, đấy là thế giới quan GS – TSKH. G. Iagodin, nguyên Bộ trưởng Bộ Đại học và Chuyên nghiệp Liên Xô cũ đã nhấn mạnh: “Tai họa lớn nhất của nhà trường – bất cứ nhà trường nào…là ở chỗ chúng ta rất ít dạy mọi người suy nghĩ như thế nào…Điều này không bình thường. Và rất dở. Trong cuộc chạy đua để chuyển tải kiến thức, chúng ta cướp mất khả năng suy nghĩ của con người, sự suy ngẫm về cuộc đời và lý giải nó …” (Báo Văn nghệ, 47 / 2002). Gần đây, nhiều người rất quan tâm tới cuốn sách Cách mạng học tập của hai tác giả Godlen Delaton (Tân Tây Lan ) và Janet Voss Hoa Kỳ), bởi nó tập trung phê phán cách học truyền thống ngự trị trong suốt thế kỷ XX, khởi xướng cách mạng học tập để đón nhận thế kỷ XXI,  được xem là thế kỷ văn hóa trí tuệ. Cuốn sách được dịch ra 11 thứ tiếng trên thế giới (Báo Văn nghệ, 46 / 2001).

Từ đây, soi vào thực tế, tôi không khỏi ngậm ngùi, chẳng hạn, khi đọc bàiHòang Tụy – Người cha của tối ưu tòan cục của nhà báo Hàm Châu đăng trên Văn nghệ Tết Giáp Thân – 2004. Theo tác giả bài báo thì lý thuyết tối ưu tòan cục đã phát triển mạnh trên thế giới từ lâu, trong đó giữ vai trò nổi bật là Trường phái Hà Nội (Hanoi school) do chính Giáo sư Hòang Tụy đứng đầu. Tuy thế, người trong nước dường như ít biết đến tên tuổi ông, trong khi ở nước ngoài thì ngược lại. Bằng cớ là ông sinh vào cuối năm 1927, vậy mà ngay từ đầu năm 1997, giới tóan học quốc tế cùng chuyên ngành đã sốt sắng chuẩn bị mừng thọ ông 70 tuổi. Họ dự định tổ chức một cuộc hội thảo trong 3 ngày ở Thụy Điển, nhằm tôn vinh Hòang Tụy… Vẫn mang một tậm trạng tương tự, tôi chăm chú đọc bài Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo của Phạm Thành Hưng (Báo Văn nghệ, 17 – 18 / 2006). Một sinh viên nghiên cứu triết học ở nước ngoài nhớ lại:“Giáo sư Vôratrếch, thầy dạy môn Lịch sử triết học bảo: Sao không học ở nhà ông Trần. Tại Mỹ, tại Italia, tại Nga, tại Pháp, Tây Ban Nha, Nhật bản…đều có sách dịch của ông ấy cả”. Giáo sư Trần đây là Trần Đức Thảo. Ông sinh năm 1917. Chưa học hết năm thứ nhất Trường Đại học Luật Hà Nội, vào năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris để thi vào Trường Cao đẳng Sư phạm Phố Ulm – cái nôi của các danh nhân và các nhà khoa học nổi tiếng châu Âu khi đó. Trong những năm chiến tranh thế giới lần thừ II, vượt qua nhiều gian nan thiếu thốn, ông vẫn xuất sắc giành tấm bằng cử nhân, rồi thạc sỹ triết học về Hiện tượng luận của Husserl. Đến năm 1943 và 1944, ông tiếp tục theo đuổi ý đồ khoa học của mình và viết luận văn Tiến sỹ. Ông đã từng tranh luận với nhà triết học hiện sinh lừng danh J. Sartre. Sau 5 ngày tranh biện, nhà triết học người Pháp đã “rút lại thắc mắc”, đồng ý với quan điểm của ông, và yêu cầu không công bố bản tốc ký tường thuật quá trình tranh luận. Quả là một đầu óc tư duy triết học hiếm có. Thế mà, ở ta, đã có mấy người đánh giá đúng tầm vóc tài năng của ông! Có phải nguyên do nằm trong nhận xét sau của tác giả bài báo: “Ông là người hay đi trước và đi xa trong tư tưởng, đi gần thì yên hàn, còn một mình đi xa thì dễ lạc… Trời sinh ra ông để đi xa, để mà làm khách lữ hành, những người mà thiếu họ, tương lai của một cộng đồng thường được dự báo và định liệu rất muộn”. Nếu đúng vậy thì chúng ta không thể hòan tòan vô can. Chợt hiện lên trong đầu tôi câu châm ngôn của nhà văn Rumani Butulescu: “Những người đi lạc đường lại thường tìm ra những con đường mới lạ”. Người lạc đường còn đóng góp cho tư tưởng nhân lọai được thế huống hồ là những người chỉ muốn đi xa theo ham muốn khám phá vô cùng tận của mình.

Soi vào thực tế rất nhiều dẫn dụ buộc chúng ta phải suy ngẫm. Ví như, cái lối học vẹt theo bài tóan mẫu, bài văn mẫu trong thi cử. Có thể kết quả trong kỳ thi nào đó là rất cao. Chỉ có điều khi ra đời, trước những bài tóan, những cảnh ngộ muôn hình muôn dạng ngoài đời thì đành thúc thủ, bất lực. Bởi, làm gì có câu trả lời một lần cho tất cả đâu. Cách học, cách dạy còn khá phổ biến ấy phỏng có ích gì. Đấy là chưa nói, nhịp sống hiện đại gấp gáp lắm! Mọi chuyện thay đổi luôn luôn. Nhiều khi đến chóng mặt. Ngay cả mọi chuẩn mực cũng không nhất thành bất biến. Khả năng thích ứng lại càng phải cao. Rồi nữa, cái thói chạy theo bằng cấp bằng bất cứ giá nào! Nhiều câu chuyện chua chát cười ra nước mắt. Thói giả mạo, man trá, hư danh cứ thế lan tràn đến mức khó lòng kiềm chế nổi. Chuẩn hóa là cần. Xã hội hiện đại càng cần. Chỉ có cái cách tiến hành đây đó xem ra chưa thật ổn. Trách nhiệm chung có phần thuộc về xã hội. Nhưng Bộ chủ quản nên nhận phần chính về mình. Đáng phàn nàn là nhiều khi còn bao cấp, bao sân quá. Trên thực tế, ta chưa hòan tòan phân biệt trách nhiệm quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo với trách nhiệm tác nghiệp của các cơ sở  trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đúng là đã và đang có sự phân cấp. Càng ngày có vẻ càng sâu rộng. Nhưng xem ra còn chậm. Càng chậm so với đòi hỏi của sự nghiệp và mong mỏi của chúng ta. Chuyện thi cử chẳng hạn. Cứ theo kiểu quản lý hiện thời, thì quanh năm suốt tháng Bộ chủ quan chỉ lo chuyện thi chuyển cấp, rồi thi tuyển chọn thôi là đã hết thì giờ. Lấy đâu thư thái để nghĩ tới những chuyện hệ trọng dài lâu khác?

Xác định mục tiêu cho sát hợp cho từng giai đọan đã đành là quan trọng, tuy tôi muốn nói nhiều hơn tới việc thực thi mục tiêu. Điều này mới quyết định. Ai cũng biết, xã hội ta đang bị chi phối bởi những quy luật của nền kinh tế thị trường mặc dầu có  sự quản lý của nhà nước. Ta đã làm được nhiều việc hệ trọng, tạo ra bước chuyển mang tính quyết định trong phát triển kinh tế, tạo đà cho sự cất cách của đất nước trong một tương lai gần. Có điều xem ra chưa thật sự có sự ăn nhịp giữa kinh tế và văn hóa. Ấy là do ta chưa hình dung được hết sự  tàn phá khủng khiếp, dài lâu của mặt trái nền kinh tế thị trường đối với văn hóa, và nói riêng là đối với giáo dục. Việc dạy thêm, học thêm lan tràn là một minh chứng rõ rệt. Không thể nói hết được tại họa nặng nề của thói xấu đã biến thành tệ nạn xã hội này. Nhiều người đã bức xúc lên tiếng. Nếu quyết tâm nhổ tận gốc thì cũng phải mất vài chục năm sau mới mong khắc phục dần dần sự tổn hại của nó. Đau lòng nhất là hình ảnh  mẫu mực vốn có của người thầy bị bôi nhọ. Đồng tiền đã hủy họai một trong những biểu tượng tinh thần  thiêng liêng nhất phải mất hàng nghìn năm mới tạo dựng nên được.

Có thể nói, nền giáo dục của ta đã bị cuốn theo sức hút nghiệt ngã của nền kinh tế mới lạ chưa từng xuất hiện sâu rộng trong lịch sử dân tộc. Có lúc có nơi phải nói là có  nghiêng ngả. Do ta lúng túng, chưa thật hiểu để làm chủ được nó. Sự thất bại của việc cải cách chữ viết là dễ thấy nhất. Nhưng, đáng nói hơn chính là hậu quả của chương trình giáo dục thí điểm. Sai lầm ở đây có lẽ  nằm ở chỗ, những người thực hiện đã đồng nhất hóa việc đào tạo ra con người – một sản phẩm linh diệu bậc nhất của tạo hóa, với việc sản sinh ra những giá trị vật chất giản đơn. Rất cần quy trình, nhất là quy trình giáo dục hiện đại. Nhưng tuyệt đối không được công nghệ hóa một cách quá máy móc như thế. Ở đây, tôi không bàn tới thiện ý thiện tâm của các nhà khoa học. Tôi cũng không phản đối thực nghiệm, kể cả thực nghiệm giáo dục – một lĩnh vực bao giờ cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ. Tôi chỉ muốn nói, khi ứng dụng rộng rãi một mô hình nào đó cần phải tính tóan hết sức thận trọng. Nếu không, hậu quá xã hội sẽ khó mà lường hết cho nổi. Cũng may chương trình gây nhiều tranh cãi đôi khi phải nói là gay gắt trong một thời gian khá dài này đã kết thúc. Vậy mà, có lạ không, nhiều người trong cuộc đến giờ vẫn còn cảm thấy luyến tiếc. Nên nghiêm túc rút ra bài học từ những kinh nghiệm đau lòng tương tự.

Cũng cần bàn thêm về chủ trương duy trì trường chuyên, lớp chọn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Trong một xã hội văn minh, giáo dục phổ thông và giáo dục tinh hoa bao giờ cũng cần được tiến hành song song, không thể xem nhẹ loại hình nào cả. Chỉ băn khuăn là liệu có nên phổ cập hoạt động đào tạo tinh tuyển tới từng tỉnh thành ở nhiều bậc học như hiện nay hay không? Đã gọi là chuyên thì phải sâu, nghĩa là phải tập trung, phải định hướng hẹp. Thời gian thì hữu hạn, khó tránh khỏi phiến diện, thậm chí thiên lệch. Trong khi, giáo dục tòan diện là đòi hỏi nhất quán, không chỉ ở giáo dục phổ thông mà ở cả giáo dục chuyên nghiệp và đại học. Mâu thuẫn phát sinh từ đó. Tôi nghĩ, ta nên thu hẹp đào tạo tài năng vào những trung tâm lớn và ở những bậc học cao. Nhất là hết sức tránh chạy theo thành tích trong thi cử mà quên đi những đòi hỏi giáo dục lý tưởng, nhân cách cùng việc hòan thiện những kỹ năng sống trong cộng đồng và với người khác. Đảm bảo sự hài hòa là không dễ. Nhưng không thể khác! Nhân tài ở lĩnh vực nào cũng đều hiếm và quý. Có điều, nhân tài trước hết cũng vẫn là những con người. Rất cần một cuộc sống bình thường với những hạnh phúc trần thế như bao người khác!

M. Malherbe trong cuốn Những nền văn hóa của lòai người có cho rằng: “Không ai ngờ nghệch tin Bảy ơn cả của Đức Chúa thánh thần ban phát cho con người, trong đó có “Ơn khôn ngoan”, “Ơn thông minh”, “Ơn hiểu biết” …Thế nhưng, cần thấy rõ việc đào tạo giáo dục con người ngày nay trước hết phải nhằm đích giúp cho đứa trẻ có khả năng sống trong xã hội. Việc hòa nhập xã hội ngày nay đang diễn ra rất nhanh… (Báo Văn nghệ, 47 / 2002). Ở đây có liên quan đến việc chú trọng trau dồi đồng thời hai lọai trí tuệ mà Daniel Goleman (Mỹ) gọi là trí tuệ duy lý trí tuệ cảm xúc. Nhà trường hiện lệch hẳn về việc giáo dục trí tuệ duy lý. Phải coi giáo dục trí tuệ cảm xúc là một yêu cầu hết sức cơ bản của giáo dục tòan diện. Đảm bảo sự hài hòa này là nhiệm vụ cấp bách của công cuộc cải cách giáo dục hiện thời. Bởi, con người bao giờ cũng là con người xã hội, người ta không thể sống thiếu người khác. Trong khi, một trong những nội dung then chốt của trí tuệ cảm xúc năng lực thông cảm với người khác. Có vậy, con người mới được rèn rũa nên bản lĩnh văn hóa để có thể làm chủ cuộc đời mình, đúng như học giả Ngô Hoan trong tiểu luận Bàn về văn hóa đã viết: “Văn hóa dùng để đối phó toàn bộ quá trình nhân sinh, không chỉ giới hạn ở mặt chuyên môn, bởi vì bản thân đời sống con người là chuyên môn cao nhất” (Báo Văn nghệ, 26 / 2005). Cao hơn, từ đó, con người mới có điều kiện vượt qua một trong những thử thách lớn của lòai người khi bứơc vào thiên niên kỷ mới: Thử thách về sự đánh mất bản tính con người. Người ta so sánh rằng, ở phương Tây, về mặt kinh tế, chỉ có 3 người giàu nhất thế giới đã có số tài sản tương đương với 1/10 nhân lọai. Và 300 người giàu nhất nắm giữ 1/3 tiềm lực kinh tế của nhân lọai. Nếu chỉ chú trọng tới trí tuệ duy lý để cho tình trạng đó kéo dài, thì dần dần tất sẽ làm cho con người trở nên “nghèo nàn tính người” (A. Camus) đi, và tiếp theo không thể khác là sự tha hóa hòan tòan,“sự biến mất con người” (M. Kundera) theo nghĩa đích thực của từ này.

Rõ ràng, giáo dục là lĩnh vực lớn và khó. Mọi ý kiến chỉ mang tính cá nhân. Tôi không có tham vọng gì nhiều. Chỉ mong tất cả chúng ta cùng một hướng nhìn. Rồi khi cần thì thành tâm lên tiếng nói. Chỉ với một mục đích duy nhất: vì tương lai rạng ngời của dân tộc trong thiên niên kỷ tới.

                                                   

                                                                                Đà Lạt, 8/2007

 

 

Comments