Cần điều chỉnh quan niệm dạy học theo xu hướng hiện đại

Nhiều năm nay, toàn ngành giáo dục chúng ta hầu như dồn mọi nguồn lực và sức lực vào công cuộc cải cách,  trước hết là về nội dung, và cùng với nội dung là về phương pháp, cách thức đào tạo. Tất cả là nhằm hướng tới việc đào luyện nên những con người  ngày một thích ứng hơn với thời cuộc vốn luôn không ngừng đổi thay. Phải nói là mọi nỗ lực của chúng ta đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, nếu thật sự nghiêm khắc mà nói, thì đó mới chỉ là những kết quả bước đầu, còn cách rất xa với đòi hỏi của công cuộc Đổi mới và nhất là mong mỏi của chúng ta. Tôi nghĩ, khâu mắc chính cần tập trung tháo gỡ nằm ở quan niệm dạy học. Vì, hầu như ai cũng biết rằng, chính quan niệm sẽ quyết định hành động của con người. Điều này đặc biệt đúng với sự nghiệp đào tạo đầy ý thức của chúng ta.

Tôi nhớ tới Chùm thơ Kinh (1922 - 1924), trong đó có bài Người vợ của Lốt của  nhà thơ Nga nổi tiếng A. Akhmatova. Theo Kinh Thánh, Sáng thế ký, chương 19 – 26, thì Gihơva vì căm giận dân thành Sôđôm vô đạo, đã phái Thiên sứ xuống hủy diệt thành. Do ngoan đạo, tiếp đón và che trở cho Thiên sứ thóat được cuộc săn lùng của dân Sôđôm, Lốt được Thiên sứ cứu sống, dẫn chàng trốn qua đường núi khi thành bốc lửa, với một điều kiện là không ai được phép quay đầu lại. Vợ Lốt không đừng được, quay lại nhìn và lập tức bị biến thành một cột muối trắng. Cảm khái về việc đó, nữ nhà thơ xúc động viết: “Chỉ mỗi trái tim tôi chẳng bao giờ quên được / Kẻ hiến dâng đời cho mỗi cái nhìn thôi”. Vậy đấy, cái nhìn thật sự quan trọng đối với mỗi người, càng quan trọng hơn đối với cộng đồng và xã hội.

Trước nay, mục tiêu dạy và học ở nhà trường Việt Nam được xác định rõ ràng trên ba phương diện chính yếu là giáo dưỡng, giáo dục và rèn luyện kỹ năng. Trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn tới mục tiêu thứ nhất. Giáo dưỡng tức là nhằm giúp học sinh, sinh viên trau dồi tri thức về tự nhiên, xã hội và con người. Phương châm chỉ đạo ở đây là: tri thức phải cơ bản, toàn diện, hiện đại, phù hợp và hệ thống. Nội dung chương trình các cấp học, bậc học phải nhằm hướng tới mục tiêu đó. Phương pháp dạy và học của thầy và trò cũng vậy. Từ đó tiêu chí đánh giá trên phương diện giáo dưỡng cũng rất rõ rệt. Thầy có hiểu biết sâu rộng về chuyên môn, chuyên ngành mình phụ trách và biết cách truyền thụ những tri thức sâu rộng đó đến người học hay không? Trò có hiểu đúng, đủ, sâu những tri thức sâu rộng mà người thầy có ý định truyền đạt hay không? Đó đồng thời là cơ sở để xem xét đóng góp của nhà trường đối với xã hội. Thành bại của một nền giáo dục phần chính cũng tuỳ thuộc vào điều đó. 

Sẽ chẳng có điều gì đáng bàn nếu ta giả định hệ thống tri thức được nhân loại tích luỹ từ trước đến nay là hoàn toàn ổn định, đáng tin cậy. Tuy nhiên sự thể không như vậy. Theo ý kiến được nhiều nhà khoa học tán đồng của Đỗ Kiên Cường thì: “Có lẽ thành tựu quan trọng nhất của khoa học thế kỷ XX là khám phá những giới hạn mang tính nguyên lý của nhận thức” (Xem bài Giới hạn của nhận thức, Báo Văn nghệ số Tết Quý Mùi). Xin nói ngay, tôi thuộc trong số những nhà khoa học không chỉ chấp nhận mà còn tin tưởng vào điều đó. Hãy bắt đầu bằng Thuyết tương đối của Einstein mà hệ luận quan trọng nhất của nó là: Không thể tồn tại chân lý tuyệt đối. Rồi Nguyên lý bất định  Heisenberg. Nguyên lý này giúp ta tin rằng: Chớ mong xác định chính xác hành trạng của tự nhiên. Rồi nữa, Định lý bất toàn Godel. Nó chứng minh hoàn toàn có cơ sở sự thật: Không thể có lý thuyết cho mọi thứ, lý thuyết cuối cùng mà một số nhà vật lý học đang tìm kiếm. Chưa hết, còn có thể kể tới Lý thuyết đa vũ trụ (không biết đâu là tận cùng của vũ trụ), Lý thuyết hỗn độn (có thể có kết quả không tất định ở một hệ thống tất định). Có thề chia sẻ với nhận định sau của R.March: “Vật lý hiện đại dạy chúng ta rằng, bất luận các lý thuyết của chúng ta khôn ngoan thế nào, các đo đạc cẩn thận ra sao, và bất luận máy tính của chúng ta mạnh mẽ đến thế nào, tương lai luôn không thể dự đoán được”.

Trên Báo Văn nghệ số 15 / 2003 còn đăng một bài rất đáng lưu ý khác của Phạm Việt Hưng với nhan đề Bất khả (được hiểu là không biết cái không thể biết, chứ không phải là bất khả tri). Tác giả bài báo tập trung giới thiệu cuốn Bất khả – Giới hạn của khoa học và khoa học của giới hạn của John Barrow, giáo sư toán học và thiên văn học Đại học Sussex, London. Tôi tâm đắc với nhận định sau của tác giả cuốn sách: “Cả nhà khoa học lẫn nhà triết học đều quan tâm đến khái niệm bất khả. Nhưng trong khi nhà khoa học có xu hướng chứng minh cái bất khả là khả thì nhà triết học lại lưu ý rằng nhiều cái ta tưởng là khả thực ra chỉ là bất khả”. Trong bài báo, Phạm Việt Hưng còn nhắc đến hình tam giác và mô hình bậc thang mang tên nhà vật lý học, nhà toán học lỗi lạc Roger Penrose để nhằm mô tả khái niệm bất khả như là sự bất lực của khoa học trong việc nhận thức cái toàn bộ. Rõ ràng, đúng như tác giả viết: “Nhận thức chỉ có thể tới chân lý cục bộ thay vì chân lý toàn phần, chân lý tuyệt đối”. Tóm lại, giáo sư  John Barrow có lý khi đưa ra nhận xét sau về nhà toán học Hilbert – người luôn đề cao uy lực tuyệt đối của logic toán học hình thức trong thế kỷ XX: “Điều duy nhất ông ta không biết ấy là sự biết”. Cũng có thề nói như thế về chính những người luôn tin vào sự tồn tại của chân lý tuyệt đối, vào khả năng vô hạn của nhận thức con người.

Sau đó, trên Báo Văn nghệ số 25, năm 2003, Phạm Việt Hưng lại cho công bố một bài viết rất đáng đọc khác có tên Nghịch lý tự quy chiếu và siêu ngôn ngữ. Một phương diện khác của sự bất khả được soi sáng. Ấy là khi một hệ thống nhận thức muốn nhận thức về chính bản thân mình. Và ở đây giới hạn của nhận thức lại càng bộc lộ rõ. Câu nói của I.Kant được tác giả dẫn ra thật đúng lúc, đúng chỗ: “Câu trả lời làm dấy lên những câu hỏi mới”. Tuy nhiên, ý tưởng đáng nói nhất lại được nêu ra trong bài báo trước đó khi anh liên hệ tới sự nghiệp giáo dục. Anh cả quyết: “Sự thành công hay thất bại phụ thuộc vào các chuyên gia sư phạm… Nếu những chuyên gia này khiêm tốn học hỏi nghiên cứu, hiểu rõ khái niệm bất khả trong chuyên môn và trong sư phạm thì xã hội may mắn. Ngược lại, nếu những chuyên gia này tự phụ cho kiến thức của mình là giỏi, là đủ, là duy nhất đúng thì xã hội chịu khổ”. Tôi nhớ đến những kết luận quan trọng sau của bài báo: “Hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, lĩnh vực giáo dục cần nắm vững khái niệm bất khả: Bất khả trong bản thân nội dung của ngành khoa học chuyên môn, và bất khả trong tương quan nhận thức mỗi ngành giữa các tổng thể”.

Vậy, theo tinh thần trên, việc dạy và học trong nhà trường chúng ta hiện giờ nên điều chỉnh, thay đổi ra sao? Trước hết là việc dạy của thầy. Đã là thầy thì phải hơn trò về tri thức. Hơn một cái đầu. Để truyền thụ tri thức có hiệu quả, người truyền thụ phải có niềm tin khoa học. Phải tin vào điều mình nói. Càng tin càng có sức thuyết phục người học. Trong khi hiểu biết của người thầy vốn rất có giới hạn. Chính khoa học còn có giới hạn kia mà! Nghịch lý bắt đầu hé lộ. Nên sử lý như thế nào ở đây? Một mặt, chính người thầy không được phép nghi ngờ những gì có ý định nói với người học nơi giảng đường. Mặt khác, điều này mới thật đáng lưu tâm, người thầy không nên coi những gì mình nói ra là chân lý tuyệt đối. Nhất là không được phép nghĩ rằng mình biết được mọi thứ, hiểu được mọi điều, thậm chí hiểu biết mọi thứ mọi điều đến ngọn ngành. Rất nhiều lĩnh vực nằm ngoài nhận thức của chúng ta. Đó là chuyện bình thừơng. Không phải thầy là biết được hết. Và không phải khi không biết một điều gì là không xứng đáng làm thầy. Cần ghi nhớ lời dạy chí lý của Đức Khổng Tử: Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, ấy mới là người biết.

Thêm nữa, nghề dạy học cùng với nghề y, rất cần kinh nghiệm. Càng hành nghề lâu càng có điều kiện thấu nghề, lành nghề, tinh nghề. Ưu thế thật rõ. Nhưng nếu không biết giới  hạn, ỷ lâu năm, rất dễ rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa. Cuộc sống lại luôn đổi thay. Cuộc sống hiện đại lại càng đổi thay nhanh hơn. Tri thức hiện đại phát triển đôi khi đến chóng mặt. Sự thoả mãn phải được xem là lực cản lớn nhất đối với người thầy. Phương châm học mãi, học suốt đời đối với nghề dạy học hoá ra là một đòi hỏi tự bên trong của nghề, nó góp phần chính tạo ra ý nghĩa tồn tại đích thực của người thầy trong việc thực hiện chức phận cao cả của mình.

Đi cùng với việc dạy là việc học. Cần có sự  thay đổi những thói quen ăn sâu trong hành động, những thành kiến bám sâu trong đầu óc. Học sinh phải trọng thầy. Đó là một trong những đạo lý gốc gác. Nhưng trọng không có nghĩa là xem những điều thầy truyền giảng toàn là chân lý, lại là chân lý tuyệt đối, chân lý vĩnh hằng. Cần biết hoài nghi khoa học. Cần biết đặt ra những câu hỏi ở cả những nơi tưởng chỉ toàn điều hay lẽ phải, ở cả những người được xem là hiểu biết uyên thâm. Nếu không thế, ta chỉ tạo ra những con vẹt bắt chước giỏi giang. Khi đụng phải thực tế sống động, chưa từng gặp ở giảng đường vì chưa được thầy dạy (những điều này tiếc thay lại nhiều vô kể), người ta phải chịu bó tay. Cần hoài nghi (hoài nghi khoa học, cố nhiên) không chỉ ở bài giảng của thầy mà cả những trang giáo khoa, giáo trình, những tập chuyên khảo, chuyên luận do những nhà sư phạm, những học giả uy tín viết ra. Ở đó không chỉ toàn những cái đúng, cái mới. Còn biết bao cái lỗi thời cần được hiện đại hoá, biết bao khiếm khuyết cần được bổ sung. Sự bổ sung và sự hiện đại hóa này là liên tục, là thường xuyên. Như vậy, người học, người đọc chỉ nên coi những tài liệu trên là những gợi ý. Bổ ích, quý giá đến đâu cũng chỉ là những gợi ý. Quyết không được xem đó là những thánh kinh. Mê tín trong khoa học theo ý nghĩa ấy là phi khoa học, là phản khoa học. “Không có cái đúng, chỉ có cái tự thân”, nhà phê bình danh tiếng người Mỹ H. Bloom đã nói như vậy.

Trên đây chỉ là một vài suy nghĩ bước đầu của tôi về một vấn đề hệ trọng liên quan tới việc nâng cao chất lượng giáo dục – một việc đang được những người trong và ngoài giới quan tâm. Rất mong được sự sẻ chia của các nhà khoa học và các nhà sư phạm.

                                                                                                         Đà Lạt, ngày 6/9/2006