Xuân Thiều, nhà văn - chiến sỹ

Xuân Thiều sinh ra ở một làng quê nghèo Hà Tĩnh. Ta cũng chỉ là một viên sỏi nhỏ bong ra từ đất này (Thơ Phùng Khắc Bắc). Nhà văn Đức Ban ở Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh một lần lưu ý tôi: “Xem vậy thôi, Hà Tĩnh khác Nghệ An lắm đấy!”. Tôi không thật rành rẽ sự khác biệt của hai mảnh đất có nhiều nét tương đồng này. Tuy lịch sử mách bảo tôi: nơi ấy đã từng sinh ra Nguyễn Du thời Trung đại và Huy Cận thời Hiện đại... Dấu vết quê hương hằn lên bề mặt trang sách của Xuân Thiều quả không rõ mấy. Tôi nhớ đến cái cười nhẹ nhàng của ông về ngôn từ của người lính nọ quanh chuyện “cà có đuôi, cà có cuống” trong Tư thiên. Và gần đây hơn là câu hát ru được vận vào nỗi bất trắc của nhân vật Lương trong truyện Mười ngày cho một đời:

À ơi! Nỏ thà không biết thì thôi

Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi răng đành

            Bề mặt là vậy. Riêng bề sâu của trang văn nghĩa là trang đời của Xuân Thiều, tôi dám chắc ấn tượng quê hương sâu đậm lắm. Rõ hơn cả là chất nghệ sĩ dồi dào trong con người ông – Tôi không nghĩ nó xa rời nguồn mạch trực tiếp của núi Hồng sông La quê ông.

            Nhưng thời thế tạo ra anh hùng, tạo ra nghệ sĩ. Bởi vậy, cuộc đời quân ngũ dài nửa thế kỷ của Xuân Thiều mới thật đáng nói. Ông nhập ngũ tháng 2 năm 1947, trải qua bộ đội địa phương, huyện và tỉnh. Cuối năm 1951 ông vào chiến trường Thừa Thiên, là chính trị viên đại đội, trực tiếp tham gia chiến đấu. Sau 1954, ông làm Trợ lý văn nghệ trung đoàn, rồi lữ đoàn bộ đội bảo vệ giới tuyến vào năm 1957. Cuối năm 1959, Xuân Thiều về Tổng cục Chính trị, ban đầu làm Trợ lý Phòng Văn Nghệ, sau chuyển sang Tạp chí Văn nghệ Quân đội làm biên tập và sáng tác. Đặc biệt trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông cắm sâu ở đường dây 559 và chiến trường Trị Thiên – Huế...Điểm qua vài nét như thế để hiểu vì sao Xuân Thiều có thể viết: “Đã 50 năm tuổi xuân, tôi coi việc viết về chiến tranh cách mạng và người lính là thiên chức” (1). Và, cũng để hiểu cốt cách chính trị nước sau không hề thay đổi, không gì thay đổi được của ông.

            Xin rút từ Nhật ký đọc sách của tôi. Trong Tiếng nói cảm xúc có hai chuyện xảy ra với Xuân Thiều đáng dừng lâu để suy nghĩ. Một chuyện vào hè năm 1969. Ông đến trung đoàn bộ binh X bấy giờ đang triển khai đánh địch đổ quân lên rừng. Ở đây, ông gặp một trung đoàn phó vốn là bạn quen cũ hồi kháng chiến chống thực dân Pháp. Vị cán bộ nọ bắt tay ông thật chặt, cười hể hả: “Giá anh đến đây không phải là nhà văn mà cứ như ngày xưa có hơn không?”. Chả là hồi xưa khi viên trung đoàn phó này là cán bộ đại đội thì Xuân Thiều là cán bộ chính trị cấp trên. Họ cùng làm việc, cùng chiến đấu với nhau rất vui và rất ăn ý. Giờ với tư cách là nhà văn, Xuân Thiều ở lại trung đoàn ấy hai tháng trời, phần lớn thì giờ sinh hoạt với các đại đội. Khi chiến dịch kết thúc, Xuân Thiều từ giã trung đoàn để đi đơn vị khác. Vị cán bộ hỏi: “Anh có lấy được đầy đủ tài liệu không?”. Xuân Thiều trả lời chung chung, không muốn nói sâu vào “nghề nghiệp chuyên môn” (ông viết vậy) vì có nói thì chưa chắc trung đoàn phó hiểu và thông cảm được. Rồi: “Có tìm được cái cốt truyện ly kỳ dí dỏm không?”. Xuân Thiều lắc đầu. Ông không muốn tranh luận với viên trung đoàn phó về “nhận thức văn học” (Xuân Thiều viết vậy). Tuy nhiên để vị cán bộ nọ yên tâm, ông cũng bảo: “Tài liệu quí báu nhất mà tôi thu lượm được chính là cuộc sống ở đơn vị anh, được tự mình rèn luyện thử thách, được hiểu biết thêm về cán bộ chiến sĩ...”. Nghe đến đây, trung đoàn phó cười vang: “Thế nghĩa là ông trở lại cái nghề phái viên chính trị của ông hồi xưa rồi”. Xuân Thiều đáp lại một câu thật có ý nghĩa: “Vâng, cũng na ná như thế, nhưng cũng có khác chứ anh!” (2, tr.87-88). Từ cán bộ quân đội trở thành nhà văn quân đội (hai con người này cũng có cái giống nhau mà cũng có nhiều cái khác nhau), Xuân Thiều phải trải qua một chặng đường khá dài, bằng việc bồi dưỡng “nghề nghiệp chuyên môn”, bằng cách nâng cao “nhận thức văn học”. Sự phân thân ngay trong một con người đâu có đơn giản. Lại phải giữ lấy sợi dây liên hệ giữa hai con người ấy, mong sao chúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau, để nhà văn Xuân Thiều vẫn nguyên vẹn một tấm lòng với quân đội cách mạng, lại càng phức tạp hơn nhiều.

            Một chuyện nữa, xảy ra trước đó, sau 1954. Xuân Thiều đang ở một đơn vị bảo vệ giới tuyến thì được điều động về Phòng Văn nghệ Quân đội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng Tuyên huấn là Thiếu tướng Lê Chưởng. Cục trưởng vui vẻ bảo: “Cuối cùng cậu đã toại nguyện. Lại được trở về với văn nghệ”. Xuân Thiều thành thật đáp: “Vâng, cũng như anh thôi”. Đồng chí Lê Chưởng xua tay: “Không, cậu khác mình chứ... Mình là cán bộ chính trị của Đảng yêu văn nghệ. Còn cậu là cán bộ văn nghệ của Đảng” (2, tr.306). Thật chí lý, và thật sáng tỏ. Xuân Thiều kể lại như để xác nhận, thêm một lần xác nhận. Cũng là để nhắc nhủ rằng, đừng quên, đừng bao giờ quên mình là “cán bộ văn nghệ của Đảng”. Văn nghệ có đặc thù riêng. Người làm văn nghệ có những phẩm chất riêng, nếu chưa có hoặc chưa có nhiều thì phải trau dồi. Cùng với việc trau dồi phẩm chất đạo đức người cán bộ của Đảng. Khi cả hai đã dồi dào, lại hòa hợp với nhau, mới mong xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy.

            Trở lại cuộc đời cầm bút của Xuân Thiều. Rõ ràng, ông luôn trăn trở, không ít lần thất bại, nhưng không lần nào nản chí, gắng tìm cho mình một lối đi riêng trong đại lộ chung của những người nghệ sĩ cách mạng, nghệ sĩ – chiến sĩ. Tôi có thú vui phát hiện ra điều đó trong khi đọc một loạt tiểu luận văn chương gần như xuất hiện cùng một thời gian vào những năm đầu Đổi mới của ông: Nghĩ về chỗ đứng và tầm nhìn của nhà văn, Bản lĩnh nhà văn, Cảm nhận về định hướng văn học. Một mặt, Xuân Thiều nhiều lần khẳng định bản lĩnh của người cầm bút chân chính. Từ thực tiễn sáng tạo văn chương xưa nay, ông rút ra một câu chắc nịch như siết năm ngón tay thành một nắm đấm: “Không một nhà văn nào viết bằng tay, bằng đầu người khác” (2, tr.68). Về phần mình, ông nguyện làm theo cái điều ông tin là chân lý: “Tôi nói đúng như tôi nghĩ, đúng như tôi nhận thức, tôi cảm thụ” (2, tr.67). Ai từng trải đời ít nhiều đều biết rõ, nói thì dễ vậy mà làm thì khó, khó lắm. Sống giữa cộng đồng xã hội đôi khi phải chấp nhận nhiều ràng buộc tất yếu. Nếu không, tồn tại được đã là vất vả, nói chi đến toại nguyện, thành đạt. Tìm ra được con đường thường ngoằn ngoèo đi giữa hai làn ranh, đau đầu lắm. Đi qua rồi, nhiều khi thương tích đầy mình, thiệt thòi lắm. Là người lịch lãm và quả cảm, Xuân Thiều có né tránh mà cũng có đương đầu, có chiến tích mà cũng có thương tích. Song ông không mảy may ân hận: “Tôi chưa bao giờ viết những gì mà tôi không thích thú. Không viết vì bất kỳ một áp lực nào. Tôi không muốn tự đánh mất mình bằng ngòi bút” (2, tr.168). Chỉ một ý mà ông muốn nhắc đi nhắc lại bằng nhiều cách nói khác nhau, đủ biết sự thể gian truân đến mức nào!

Đấy là một mặt của vấn đề. Mặt khác, Xuân Thiều lại luôn xác định chắc chắn “chỗ đứng và tầm nhìn” của một nhà văn, cũng như định hướng chung của cả nền văn chương. Nhớ lại những năm sóng gió cuối thập niên 80 đầu thập kỷ 90. Cộng đồng Xã hội chủ nghĩa – chỗ dựa của lòng tin bao người, bị tan rã, trước hết ở Đông Âu và sau đó ở Liên Xô. Xuất hiện tâm trạng hoài nghi, dao động ờ một bộ phận không nhỏ của xã hội, nhất là trong giới trí thức, văn nghệ sĩ. Không ít tiếng nói lạc lõng, lạc điệu đòi “đa nguyên”, “đa đảng”, đòi soát xét lại những giá trị được tạo dựng bằng máu xương của bao lớp người trong thời kỳ chiến tranh và cách mạng. Tư tưởng vốn đã phức tạp lai càng thêm phức tạp. Nhà văn, anh đứng về phía nào? Anh nhìn về hướng nào? Câu trả lời thật hệ trọng, mang tính quyết định. Cũng phải nói là giữa lúc ấy, tìm được câu trả lời cho đúng, cho rõ là không dễ một chút nào. Cũng như bao nghệ sĩ khác, Xuân Thiều đã lên tiếng. Ông dứt khoát một lập trường: “Đổi mới nhưng không được đổi chỗ đứng” (2, tr.65). Sao có thể khác được. Thời cuộc đã đổi, tư duy muốn biện chứng, cái nhìn muốn thực tế cũng cần phải thay đổi. Nhưng đổi gì thì đổi, “không được đổi chỗ đứng”. Đó là nguyên tắc có tính bản lề. Ông thành thật kêu gọi: “Các quan điểm định hướng văn học là không thể nhân nhượng, không thể thỏa hiệp”... Bởi vì, “nhân nhượng sẽ đi đến tay trắng” (2, tr.74).

Có thể nhiều người cũng nghĩ được như ông, nhưng có lẽ không mấy người cả quyết được như ông. Hình như, ngoài nhận thưc minh bạch ra, còn cần có dũng khí. Phẩm chất người cách mạng dạn dày, từng trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt cho ông dũng khí đó. Để rồi Xuân Thiều có thể tự nguyện chấp nhận lời phán xét từ phía kia – Biết đâu lại không có kẻ xem ông là phần tử bảo thủ, đi ngược lại tiến trình Đổi mới, cố níu kéo nhiều quan điểm cũ kỹ, lỗi thời. Tôi biết, ông sẵn sàng chấp nhận. Với Xuân Thiều, đó không chỉ là chân lý mà còn là đạo lý. Làm nghệ sĩ, không thể thiếu lương tri, càng không thể thiếu lương tâm và lương năng. Ông thấy ngậm ngùi chua chát cho những ai hô hào “cấp tiến” mà vẫn bám riết lấy bát cơm của chế độ - cái chế độ họ đòi thay màu đổi sắc. “Giá họ – ông viết – dám trả thẻ Đảng, từ chối mọi vị trí xã hội, khước từ mọi quyền lợi vật chất thì ra một nhẽ. Thà làm con chim đa đa để sảng khoái kêu lên “Bất thực cốc Chu gia” như Bá Di, Thúc Tề ngày xưa bên Tàu, thà chết chứ không chịu hưởng lộc nhà Chu, đằng này... lộc nhà Chu vẫn hưởng, chửi nhà Chu cứ chửi, buồn thay!” (2, tr.70). Thật đáng thán phục nhiệt huyết của nhà chính luận Xuân Thiều. Ông là vậy đấy, không gì có thể làm suy giảm lòng tin đối với lý tưởng cao đẹp mà ông đã dứt khoát chọn lựa ngay từ lúc trẻ, đã nguyện hiến thân, không hề phân vân, không hề tính toán cho đến phút chót của cuộc đời mình.

Tuy nhiên, cùng với điều đó, Xuân Thiều còn không một giây phút lãng quên mình là một nhà văn, một nghệ sĩ. Ông luôn ý thức trau dồi phẩm chất nghệ sĩ cho thật đầy đủ, cho thật giàu có. Đó là công việc dài lâu nếu không muốn nói là công việc của cả một đời người. Đó cũng là công việc không chỉ theo chiều thuận – thuận lý và thuận tình. Khó tránh khỏi tranh chấp, kể cả xung đột. Để đến đích, giá phải trả đâu ít và nhỏ. Sau khi đã xác định được chỗ đứng, cái đầu tiên đồng thời là cái sau chót hóa ra vẫn là vấn đề có tính chất muôn thuở: Rốt cuôc văn chương đích thực là gì vậy? Câu hỏi làm đau đầu bao nhà văn. Thành bại một đời văn tùy thuộc ở lời giải đáp. Chẳng phải đã có không ít người cầm bút đi đến đoạn chót con đường văn chương mới bỗng sực tỉnh nhận ra hình như trong các tác phẩm do mình sáng tạo ra thiêu thiếu một chút gì để văn chương thật sự là văn chương đó sao! Phải nói, đó là những tấn bi kịch nghề nghiệp đáng buồn và đáng tiếc. Giá như... Giá như... Sẽ có nhiều giả định, nhưng xem ra tất thẩy đều đã muộn màng. Thời gian không đợi ai cả!

Rất mừng là Xuân Thiều không thế. Trải qua nhiều thử thách, ông đã đến được cái đích cần phải đến. Trong sự hòa hợp giữa hai con người chiến sĩ và nghệ sĩ, cố nhiên. Vậy rốt cuộc động lực tinh thần nào đã khiến cho Xuân Thiều suốt đời phụng sự nghề văn, bất chấp thách thức nghề nghiệp lẫn xã hội, bất chấp sức lực và tuổi tác, khi còn trẻ cũng như lúc về già? Không thể né tránh việc giải đáp câu hỏi này vì đây là vấn đề then chốt, quyết định đến thành bại một đời văn như cách nói của ông. Có thể xem những lời bộc bạch gan ruột được ông chú tâm ghi ở bìa 4 cuốn Tiếng nói cảm xúc thay cho câu trả lời của tôi: “Đối với tôi, cuộc sống ở chiến trường đã răn dạy mình nhiều điều. Hòa nhập vào đời sống người lính ở chiến trường, trái tim ta trở nên đa cảm hơn, lòng ta trở nên nhân hậu ưu ái hơn, độ lượng hơn và nhất là bớt ích kỷ hơn. Tiếp xúc với đời sống chiến sĩ như được nghe một bản nhạc không lời. Không ai bảo ban ta từng câu từng ý cụ thể, nhưng ta cảm nhận được những điều tốt lành qua hành động, tâm tư của những người lính vào sống ra chết. Đấy là hương hoa của cuộc sống chiến trường. Hít thở được chút hương hoa này, cúi đầu bái phục vẻ đẹp người lính, ấy là nhà văn đã tự nâng mình lên”. Tôi hiểu rồi, chính tiếng nói không lời của hiện thực chiến tranh cách mạng mà Xuân Thiều đã trải qua, và tiếng nói không lời của bao số phận người lính mà ông luôn cảm phục và yêu thương đã thúc bách ông cầm bút, đã ràng buộc ông sống chết với nghề văn. Để cho đến lúc này, khi đã đi gần trọn cuộc đời viết văn của mình, Xuân Thiều đã không hề cảm thấy hối tiếc, lại có quyền hài lòng, rằng ông đã làm tất cả những gì có thể làm được mà không phụ cái trời đã cho ông, nhất là cái thời đại, cái dân tộc đã cho ông. Cuộc đời Xuân Thiều đã trải qua những thời điểm lịch sử ngàn năm có một: Cách mạng tháng Tám 1945, Hòa bình sau 1954, Toàn thắng 1975, Đổi mới sau 1986... Câu thơ Chế Lan Viên có lẽ phù hợp với suy nghĩ của tôi về ông: Có phải ông cha đến sớm chăng, còn cháu con thì lại muộn? Số phận đã không nhầm lẫn khi chọn lựa ông, còn ông thì tỏ ra xứng đáng với sự lựa chọn linh thiêng của số phận. Và, tôi gọi đó là hạnh phúc (ý thơ Dương Hương Ly).

Tôi đã viết  trong sự ấp ủ nhiều ngày về Xuân Thiều – một con người, và về Xuân Thiều – một nhà văn. Sự ấp ủ nhờ hiểu biết, nhờ tình cảm. Và không hiểu sao cho đến lúc này, sau khi đã hình dung khá trọn vẹn gương mặt cuộc đời và văn nghiệp Xuân Thiều, nghĩ tới ông, tôi tự nhiên liên tưởng đến thi hào Chilê Pablo Néruda qua hồi ức của Ilia Êrenbua: “Bề ngoài ông hao hao giống bức tượng Phật...Mặc dầu tiểu sử ông đầy những sự kiện sôi động nhưng ông lại thích lặng lẽ (ông lúc nào cũng thế) hay nói về những chuyện ngộ nghĩnh và nghĩ về những điều nghiêm túc. Ông gợi lên cái cảm giác về một ông Phật phớt đời, thậm chí lười biếng, trong khi ông viết nhiều vô kể. Những bài thơ của ông... phải gọi là rất lớn tiếng, vậy mà ông nói chuyện nhỏ nhẹ và giọng nói của ông không phải là giọng của một diễn giả mà là giọng của một đứa bé bị tủi thân”... Có dịp gặp gỡ, trò chuyện cùng Xuân Thiều, đặc biệt có điều kiện đọc, nghiền ngẫm những gì Xuân Thiều đã viết ra, các bạn có thể cảm nhận ra một phần sự thật trong mối liên tưởng của tôi, và nói chung trong quan niệm của tôi được trình bày nơi bài viết này. Tôi coi đây như một nghĩa cử đối với ông, như ông đã từng làm đối với các nhà văn đi trước và nhà văn cùng thời. Nhưng, do là một cây bút phê bình văn chương, tôi cũng xin bắt chước Xuân Thiều để có can đảm nói rằng: “Tôi phát biểu bằng chữ nghĩa trên giấy trắng mực đen rõ ràng, tôi sẽ phải chịu trách nhiệm suốt đời về những điều tôi viết ra” (Bài Với Nguyễn Minh Châu).

Mong những ai đọc những bài viết của tôi về nhà văn Xuân Thiều sẽ phần nào hiểu được lòng tôi. Khi đã gần bước vào tuổi “tri thiên mệnh”, người ta chỉ có thể nói những gì không thể không nói. Chẳng dại gì mà nói khác, càng không thể nói trái điều mình nghĩ. Người bình thường đã thế, huống chi là người cầm bút viết văn.Tôi cũng chả khi nào nghĩ là mình đã viết hoàn toàn đúng và đủ về Xuân Thiều. Văn ông như đời ông vậy, phong phú và thâm hậu, không ai luôn tỉnh táo để đi đến tận cùng cho được. Mong bạn đọc hãy xem đây như một cách hiểu thêm, cũng có thể nói là một cách hiểu khác về ông. Và nếu nó có để lại ít nhiều ấn tượng trung thực về chân dung của một trong những nhà văn Quân đội tiêu biểu - Xuân Thiều thì người viết xem như đã đạt được ý nguyện của mình.