Nhạc sỹ Hà Huy Hiền

Tôi đến thăm nhạc sĩ Hà Huy Hiền vào một buổi chiều tháng ba. Trời Đà Lạt trong xanh, nắng ấm. Chén trà Thái Nguyên tinh khiết giúp chúng tôi sống lại những năm tháng xa xôi ở núi rừng Việt Bắc năm nào...

-          Nếu tôi không lầm, quê anh ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đồng hương với cụ Nguyễn Du đấy!

-          Đúng vậy! Như người ta thường truyền bảo nhau, Hà Tĩnh quê tôi nghệ sĩ lắm! Nhưng, thực ra, tôi sinh ở Hà Nội, năm 1934.

-          Cơn cớ xui khiến anh lên tận Hà Giang, lại mê sơn nữ và rồi hát mãi “Sơn nữ ca” đến tận bâu giờ?

-          Ấy là tại duyên số. Không chỉ là duyên tình mà còn là duyên nhạc. Thú thật không biết mình có làm nên trò trống gì không nếu không có những ngày sống, hoạt động nghệ thuật ở Việt bắc...

-          Vâng từ lâu, tôi đã để ý đến chất dân ca các dân tộc miền núi thấm đãm trong các nốt nhạc của anh, ngay từ buổi đầu. Chẳng hạn bài “Lượn xuân trên nương lúa” anh sáng tác năm 1957. Bài hát được thính giả Đài tiếng nói Việt Nam yêu cầu phát lại nhiều lần trong những năm đó.Tôi còn nhớ nhiều bài mang được cái chất như anh nói cũng được công chúng ít nhiều ưu ái như: “Chiều biên giới” (1951), “Hà Giang biên cương anh hùng” (1957)... Chắc vì những thành công này, anh đã sớm trở thành Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam?

-          Thực tình, mãi đến năm 1962 tôi mới được vinh dự kết nạp vào Hội. Nhưng Đại hội thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam ở Câu lạc bộ Đoàn Kết vào năm 1957 ấy, tôi cũng được tham dự với tư cách là cảm tình của Hội.

-          Xem ra thời ấy, vào các Hội chuyên ngành Trung ương còn lắm gian truân?

-          Không hẳn vậy! Thời nào cũng có cái khó riêng của nó. Thuận lợi căn bản là tôi sớm có điều kiện giao lưu với các nhạc sĩ đàn anh. Chẳng  là vào năm 1957, tôi có phiên dịch cho các chuyên gia âm nhạc Trung Quốc (như Giáo sư Nhạc viện Bắc Kinh Thịnh Lễ Hồng) và Triều Tiên (như Nhạc sĩ Mao Vĩnh Nhất) trong các lớp “Sáng tác và lý luận” đầu tiên của trường Âm nhạc Việt Nam.

-          Anh biết tiếng Trung?

-          Tôi học Trung văn năm 1954 -1955 ở Khu học xá Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc.

-          Nghe đâu có một kỉ niệm khó quên của anh với Bác Hồ diễn ra vào thời gian này?

-          Vâng, tôi đang dịch cho chuyên gia Triều Tiên Mao Vĩnh Nhất thì Bác đến. Mọi người vui sướng đứng ngây ra. Lớp ấy có các anh Tô Hải, Lương Ngọc Trác, Đỗ Nhuận, Vũ Hối...  Bác bảo tôi ngồi cạnh và tiếp tục dịch. Tôi ngượng ngập làm theo yêu cầu của Người. Sau này anh Võ Hồng Cương, đại tá Cục trưởng Cục Tuyên huấn có gửi cho tôi một tấm ảnh chụp chung với Bác. Ý thức đem nghệ thuật phục vụ cách mạng rõ rệt và nhất quán trong tôi có được từ đó...

-          Vâng, nghe tên một số bài hát của anh thời đó cũng đủ rõ: “Công nông đấu tranh” (1950), “Tình quân dân thắm thiết” (1952), “Ngày thống  nhất Bác sẽ vô Nam” (1955),... Trong lý lịch hoạt động âm nhạc của anh còn ghi rõ: Năm 1953, trong phong trào tiễu phỉ Hoàng Su Phì - Xín Mần, anh có bài hát kêu gọi chúng ra hàng là “Anh em ơi! Hãy quay về với chính phủ...” Rồi năm 1962, anh được Bộ Văn hóa cử làm Phó đoàn Văn công Dân tộc vào phục vụ đồng bào giới tuyến Vĩnh Linh...

-          Ôi ! Những ngày thật sôi  nổi và giàu ý nghĩa! Tôi đã sưu tầm, cải biên dân ca Tày, Nùng, Dao, H´mông, Lô Lô... Các chuyên gia Trung Quốc và Triều Tiên thường nhắc tôi: Hãy tìm sức sống âm nhạc trong tinh thần dân tộc, trong chất liệu dân gian... Những bài hát tôi viết về Lâm Đồng “Như chim đại bàng tung cánh”, “Di linh một chiều”, “Say mê và khát khao”, “Tình khúc Pongour”, “Xuân Sơn quê hương”... đều thấm nhuần ý thức nói trên.

-          Nhưng có lẽ không đâu tập trung và thành công bằng bài “Nhân dân Tây Nguyên nhớ Bác” phải không anh?

-          Bài hát này nhiều lần được Huy chương vàng trong các hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc. Gần đây nhất là vào tháng 8/1998 tại Đà Nẵng, do Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh dàn dựng. Tôi nghĩ, nếu không bám vào dân ca chưa chắc bài hát đã gặt hái được thành công đến thế.

-          Và chắc đây vẫn là con đường anh đang đi và sẽ đi?...

-          Tôi đang ấp ủ nhạc kịch “Chiêng thần trên đỉnh núi mặt trời” nhất quán với con đường đã chọn lựa...

-          Được biết anh còn tìm sức sống trong chất giọng của riêng mình với tư cách là ca sĩ thể hiện?

-          Vâng, cũng có thể xem là thành công. Thời ấy nhiều khi tôi tự tình bằng những bài hát của mình hoặc do mình sưu tầm, cải biên và cũng được một số giải lớn như Huy chương vàng tại Hội diễn Nghệ thuật mùa xuân năm 1962, Phần ca nhạc dân tộc với bài “Dân ca Pu pảu”.

-          Nhưng chủ yếu anh vẫn tự khẳng định mình với tư cách nhạc sĩ sáng tác. Và chất liệu dân ca các dân tộc đã theo anh suốt đời, nhất là khi được trở vào Lâm Đồng làm việc ở Đoàn Ca Múa Nhạc của tỉnh ta? Chắc phải đầu tư nhiều, với quy mô đán nể trọng... Tôi muốn nói đến công sức, thời gian và cả vật chất nữa. Anh có mong được sự tài trợ của địa phương?

-          Được vậy thì quá hay! Nghỉ hưu rồi, bao chuyện lớn nhỏ đều phải lo...

Giọng anh bỗng lắng lại, trầm hẳn xuống. Tôi ái ngại nhìn căn phòng tuềnh toàng của anh chị. Tóc anh đã điểm sương. Bước qua tuổi 66 rồi còn gì. Ai chống nổi sự tàn phá kinh người của thời gian. Nghe anh bảo sắp tới chỗ anh ở nằm trong kế hoạch giải tỏa. Bao nỗi lo sinh kế mà anh vẫn còn giữ được trái tim “Say mê và khát khao” (tên một bài hát của Nhạc sỹ Hà Huy Hiền), đáng nể phục quá, anh Hiền ơi!