Nhà phê bình Lê Đình Kỵ

     Tôi vinh hạnh được làm học trò chính thức của giáo sư Lê Đình Kỵ đâu có đôi ba buổi gì đó. Vào giữa 1978, tôi được cử đi dự lớp bồi dưỡng thi nghiên cứu sinh nước ngoài ở Hà Nội. Hướng dẫn chúng tôi toàn những tên tuổi quen thuộc ở Đại học Tổng hợp và Viện Văn học trong đó có ông. Nhiều công trình nghiên cứu giá trị mang tên ông về phương pháp sáng tác, về Truyện Kiều và thơ hiện đại đã làm cho hình ảnh của ông có phần lấp lánh hào quang trong con mắt của tôi. Giữa ông và chúng tôi như có một hố cách ngăn, không đến mức xa vời nhưng cũng đủ để chỉ dám “kính nhi viễn chi”. Cảm nhận ban đầu của tôi khi nghe ông giảng về tập Việt Bắc của Tố Hữu thì lại hoàn toàn khác. Ông nói đều đều, đôi khi rời rạc, thậm chí buồn tẻ nữa. Nhưng đó chỉ là những ấn tượng đầu tiên, bởi ngay sau đấy, tôi đã kịp nhận ra sức hấp dẫn lạ lùng qua từng lời tưởng như không có gì quá đặc biệt của ông. Đó là sức gợi lớn nhờ sức nghĩ tiềm ẩn đâu đó ở nơi ông. Phải chăng, đây chính là điều cốt yếu nhất đối với những người đang tập tễnh bước vào lãnh địa văn học như chúng tôi khi ấy? Tôi nhớ một nhận định quan trọng sau của ông: Thời Từ ấy, Tố Hữu trước hết hướng về cái đẹp của lý tưởng cách mạng, cái đẹp về phía tương lai, khi lý tưởng ấy được thực hiện. Với tập Việt Bắc, lý tưởng chan hòa vào hiện thực của nhân dân đã đứng lên làm Cách mạng tháng Tám và giờ đây đang tiến hành cuộc kháng chiến thần kỳ. Chỉ vậy thôi cũng đủ để triển khai thành một tiểu luận dài hơi mà không sợ chông chênh, hụt hẫng.

Tôi còn để ý tới cách nói tinh tế mà dung dị của ông. Rõ nhất là khi ông chọn đề mục hoặc tên sách. Như cuốn Đường vào thơ. Tôi như nghe lời tâm sự sau của ông: Mỗi người có con đường đi vào thơ riêng của mình; đây là con đường của tôi với những cảm nhận của tôi; xin được giãi bày trung thực, mong được sự sẻ chia của nhiều người… Đúng là một tuyên ngôn phê bình hiện đại. Chẳng phải ta hay nghe nói đến dạng thức phê bình đối thoại, xem trọng tính cá thể của người đọc, không áp  đặt, răn dạy mà lấy sự cảm thông trong tiếp nhận làm đích chính đó sao! Sau này, có dịp đọc kỹ nhiều trang phê bình của ông, tôi càng có thêm chứng cớ xác nhận ấn tượng mang tính trực giác buổi đầu ấy. Đây, lời “chiêu tuyết” cho một hiện tượng văn chương từng là điểm nóng của tư duy đổi mới: “Thơ Mới đã có hàng trăm bài có thể xếp vào loại hay nhất của nền thơ ca dân tộc. Và khi đã là thơ hay thì tác động của nó không chỉ do chữ nghĩa, từ điệu, mà còn giúp đời sống tinh thần thêm phong phú, hướng vào điều hay lẽ phải. Phải chăng nghệ thuật, cái đẹp tự nó đã có ý nghĩa cảm hóa?” Không thể bảo thái độ của người viết là không rõ ràng, dứt khoát. Nếu nghe tinh, ta còn nhận ra cả sự biện bác, tranh luận không kém gay gắt, quyết liệt. Ông là thế, không ưa đao to búa lớn, mà thích âm thầm, rỉ rả theo kiểu “lạt mềm buộc chặt”. Lời nói dạng này đôi khi lại mang một sức cảm hóa lớn đến không ngờ. Nó tự nhiên, vì thế dễ neo giữ bền lâu nơi tâm trí con người. Có lúc tôi tự hỏi, do đâu mà ông có đuợc cái chất phê bình ấy? Đời dạy ông hay văn dạy ông? Có lẽ là cả hai. Văn chương đích thực xưa nay bao giờ chẳng lấy sức thuyết phục người làm trọng. Được vậy, trước hết phải có khả năng tự thuyết phục. Mình không tin thì người khác tin sao nổi. Lê Đình Kỵ có niềm tin này, và còn có cái mà nhiều nhà phê bình khác ít có, ấy là cái cách riêng trong việc trình bày niềm tin của mình. Ông hay đặt những giả thuyết, giả định như  đang cùng người đọc trên cuộc hành trình gieo neo tìm đến chân lý vĩnh hằng của văn chương. “Nếu người sáng tạo – ông viết – chỉ coi những nỗi buồn riêng như là mở đầu và tận cùng của tất cả, thì tác phẩm sẽ không có sức vang dội bền vững vào lòng người, nó sẽ không nói đuợc gì nhiều với những tâm hồn khác, vì cuộc đời này đâu phải là chuyện riêng của anh, và chỉ có mỗi một anh. Còn biết bao chuyện to lớn và khẩn trương, biết bao cuộc đời và kiếp người cần phải quan tâm đến… “ (Sáng mắt sáng lòng, Nxb Văn học, 1979, tr.73).

Ta biết giáo sư Lê Đình Kỵ không chỉ viết phê bình. Ông còn là nhà nghiên cứu, nhà lý luận văn chương nổi tiếng. Có thể thấy dấu ấn của phong cách phê bình nói trên trong các công trình lý luận và nghiên cứu của ông. Cuốn “Truyện Kiều và  chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du“ chẳng hạn (Nxb Khoa học Xã hội, 1970). Nhiều người  đã xác nhận những cống hiến quý báu, mới mẻ của ông khi đi vào một tác phẩm cổ điển của nền văn chương dân tộc được nhiều người thuộc nhiều thế hệ đào qua xới lại không ít lần. Đến mức có người đã gọi chuyên luận này là công trình nghiên cứu “kinh điển” về Truyện Kiều. Tuy vậy, người ta vẫn có chứng cớ để hoài nghi sự vận dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực có phần khiên cưỡng của ông. Chắc không phải không có lý do mà trong lần sửa chữa và cho công bố gần đây ông đổi tên sách thành “ Truyện Kiều, đỉnh cao văn học”. Duy những đoạn viết về thế giới nhân vật trong kiệt tác của Nguyễn Du thì mãi mãi cuốn hút người đọc. Khiếu thưởng thức tinh tế của nhà phê bình trong ông chưa bao giờ được phát huy nhiều đến thế. Lại bằng một lối viết nhuần nhị như  đang cùng tâm sự với bạn đọc. Về Mã Giám Sinh, ông viết như sau: “Cái câu lịch sự duy nhất được thốt ra từ miệng gã, như đã  đuợc học thuộc lòng từ trước, khi mà giờ phút quyết định đã đến:

Rằng: “ Mua ngọc đến Lam Kiều

Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường.

Giọng lưỡi thì có vẻ hào hoa phong nhã, nhưng ý nghĩa mua bán thì thật là lộ liễu, và gã không phải chờ lâu hơn nữa để vất cái mặt nạ làm vướng víu gã:

Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm” (tr.234)

Nhà phê bình còn “nắm tay” nhà nghiên cứu ngay cả ở những phương diện ít thân thiện nhất như phương pháp. Tôi nhận ra lối so sánh hầu như chỉ được vận dụng trong văn nghệ thuật ở tập sách nghiên cứu trên: “Trong cuộc đời khổ nhục của Kiều, không biết  Kiều còn có thể thấp đến đâu nữa. Nhưng ta cám ơn Nguyễn Du đã gạt bỏ cái chi tiết tàn nhẫn trong Kim Vân Kiều truyện . Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân đã phải ăn nằm với Sở Khanh” (tr.238). Bàn tay đẽo gọt khéo léo đến mức tưởng như không còn để lại dấu vết nào cả.

Dấu ấn của một phong cách phê bình in đậm không kém trong những công trình lý luận của giáo sư Lê Đình Kỵ. Tôi chưa thấy ai viết về đặc điểm của ngôn ngữ văn chương lại thật và thực như ông: “Nghệ sỹ ngôn từ là người cảm thụ từ ngữ một cách vật thể, cho nó thấm tận làn da, thớ thịt, lay động đến tận cân não của mình. Anh ta sống với từ ngữ, hút thở chất sống tiềm ẩn trong mỗi từ, cũng như biết hà hơi tiếp sức cho nó” (Tìm hiểu văn học, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984, tr.27). Ôi! Cứ như một nhà văn đích thực đang bàn về cuộc vật lộn với từng câu chữ khi vừa rời cây bút viết văn. Như còn nguyên đó, bùn đất của lao động văn chương đam mê và khổ ải. Thần tình nhất là được nghe Lê Đình Kỵ luận bàn về bản chất của thi ca. Lý trí lạnh lùng của một nhà khoa học không thể tạo nên được những  trang lấp lánh sự sống văn chương như thế này: “Người ta nói thi ca nhằm diễn đạt cái tưởng như không diễn đạt được… Nhiều trạng thái tâm hồn mà thơ ca  phải biểu hiện thường không có tên gọi và có lẽ sẽ không bao giờ có được tên gọi. Ở đây chỉ có thể là gợi hơn là tả, có tả cũng là để gợi ra, để gây lên sự đồng cảm bằng con đuờng của cả tư duy lẫn tưởng tượng, trực cảm” (Nguyên lý văn học, Đại học Tổng hợp Tp . Hồ Chí Minh, tr.143 – 144). Có lẽ không một ai xứng đáng đứng ngay sau Hoài Thanh trong sự cảm nhận cái hay cái đẹp của thơ như ông. Để rồi mạch sống tự nhiên của thi ca thấm đẫm trong từng khái quát lý luận về thơ của ông.

Tôi như đang nghe giáo sư Lê Đình Kỵ bảo rằng: “Này, trước hết hãy xem mình là một nhà phê bình văn chương đấy nhé! Còn muốn có những áng văn phê bình đẹp ư? Phải nhiều dụng công nhưng cần hết sức tránh tô vẽ. Gorky nói rất phải: Cái đẹp nằm trong sự giản dị". 

 

                                                                                                                         Đà Lạt, 4/4/2001