Nhà lý luận Trần Văn Bính - Thầy tôi ngày ấy

Giờ thầy Trần Văn Bính đã là giáo sư – tiến sỹ, nhiều năm giữ cương vị Chủ nhiệm Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa  của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Mỗi dịp ra Hà Nội, dầu bận bịu đến mấy, không khi nào tôi quên thăm hỏi thầy. Những ngày học hành gian khó nơi sơ tán 30 năm về trước tự nhiên cứ sống lại trong tôi… Tôi nguyên là sinh viên Ngữ văn Khoá 3 Đại học Sư phạm Việt Bắc. Những ngày đầu mới thành lập năm 1966, nhiều giảng viên giàu kinh nghiệm từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được điều động chi viện cho Trường tôi. Thầy Trần Văn Bính chuyển lên dạy chúng tôi vào dịp này. Ngày ấy khổ mà vui, mà thương nhau, nhất là ai cũng miệt mài với chuyện học hành. Tháng chạp lạnh, giữa rừng khuya, vẫn đốt đèn dầu mazút đọc sách thâu đêm. Do sức trẻ? Cái chính là do nhiệt huyết. Phải dùi mài kinh sách cho thật nghiêm thật nhuyễn, trước hết để khỏi phụ công lao dạy dỗ của các thầy.

Dạo đó, thầy Trần Văn Bính còn trẻ lắm. Thầy hay đỏ mặt khi nói đến chuyện gia đình riêng tư. Riêng về tri thức thì hết thảy chúng tôi đều nể phục và tin cậy vào thầy. Dạy lý luận văn chương cho hay không dễ đâu. Toàn những khái niệm, phạm trù khô khan “khó nuốt” . Nhưng thầy biết cách truyền đạt những điều cốt lõi nhất tới người học sao cho thật sáng tỏ. Trên cái nền rộng của thực tiễn sáng tạo văn chương xưa nay, thầy biết chọn những dẫn chứng nổi bật để diễn giải nguyên lý chung. Đưa cái trừu tượng trở về cái cụ thể, và từ cái cụ thể nâng lên thành cái trừu tượng – con đường nhận thức trong sách vở biến thành con đường truyền thụ trong bài giảng của thầy. Tôi mê lý luận, nguyện hiến đời mình cho việc giảng dạy và nghiên cứu lý luận đầy gieo neo mà cũng nhiều hứng thú ngay từ rất sớm là nhờ những tấm gương như thầy. Tôi nhớ tới ý kiến của Lê nin được thầy dẫn ra nhằm tạo cơ sở vững chắc cho môn học: nếu sự trừu tượng trong khoa học là đúng đắn thì đấy không phải là lùi xa chân lý; rồi: tất cả mọi trừu tượng khoa học (nghĩa là đúng đắn, nghiêm chỉnh, không nhảm nhí) đều phản ánh tự nhiên sâu sắc, chính xác và đầy đủ hơn.

Chúng tôi nghe thầy Trần Văn Bính giảng trên lớp, về nhà lại đọc sách của thầy. Cuốn “Sơ thảo nguyên lý văn học” thầy viết chung với GS. Nguyễn Lương Ngọc là tập giáo trình lý luận đầu tiên do chính các học giả Việt Nam biên soạn. Văn lý luận của thầy có sức nặng của niềm tin khoa học. Hiểu biết để thành niềm tin dứt khoát phải trải qua một quá trình thâu nhận, có chắt lọc và có sáng tạo, có xác minh và có hoài nghi, tính chủ động phải nói là rất cao. Ngay từ dạo ấy, thầy đã được những người trong giới xem là một trong những chuyên gia hàng đầu về nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Lứa chúng tôi sau này luôn có ý thức kế thừa những quan niệm sáng sủa, xác đáng từ thầy. Chẳng hạn, để tránh giản đơn, thầy bao giờ cũng chú tâm nhấn mạnh tới sự phân biệt cần thiết trong quan niệm của Lê nin giữa “cái phản ánh” và “ cái được phản ánh”. Để rồi, trong bất cứ trường hợp nào, sự sáng tạo của người nghệ sỹ cần phải được xem trọng. Thầy đã cho thấy sự gắn bó và sự khác biệt giữa lý luận nghệ thuật với lý luận phản ánh. Chân lý nghệ thuật bắt nguồn từ chân lý đới sống, nhưng nghệ thuật lại không phải là đời sống – cái nguyên lý cơ bản đến thành sơ giản này có thời đã bị vận dụng một cách sai lệch. Hậu quả tai hại đến giờ hầu như ai cũng có thể nhận ra.

Giáo sư Trần Văn Bính còn có tác phong tỷ mỷ chu đáo của một nhà sư phạm. Tôi nhớ khi ấy Khoá  chúng tôi có phong trào làm hồ sơ học tập đem lại nhiều hiệu quả thiết thực. Mỗi sinh viên chọn một, hai chuyên đề ưa thích, rồi tập hợp các tài liệu nghiên cứu, làm các bài tiểu luận cá nhân, sau đấy nhờ một giảng viên hướng dẫn xem xét, chấn chỉnh. Tôi làm về thi hào Nguyễn Du và được thầy Trần Văn Bính chỉ giáo. Để gây ấn tượng, ngoài bìa lót, tôi trân trọng ghi câu thơ nổi tiếng trong bài “Độc Tiểu Thanh ký”:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Có điều, đáng nhẽ ghi là “tri”, nệ vào trí nhớ, tôi lại nhầm là “chi”. Thầy đọc và lấy bút sửa. Nét chữ nghiêng màu tím đến giờ tôi vẫn không quên. Tôi cũng còn nhớ cái buổi tối ngày 20/11/1970. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, thầy nói chuyện về cuốn  “Bài ca sư phạm” của Makarenko. Hội trường đông nghịt mà im lặng. Mọi người háo hức lắng nghe giọng nói trầm ấm, sâu lắng của thầy. Thật thấm thía! Cứ như thầy đang nói về sự chọn lựa và tình cảm nghề nghiệp của chính mình. Qua thầy, tôi sớm hiểu cái điều giản dị sau: muốn thành đạt phải thật sự gắn bó với nghề. Dạy học nói chung đã thế, dạy văn lại thêm một lần gắn bó. Đúng hơn là phải mê say văn chương, mê say nghề dạy văn chương. Bản chất đích thực, bản chất sâu thẳm của đối tượng và nghề nghiệp đòi hỏi thế. Nhà thơ Tố Hữu rất chí lý khi yêu cầu, trong một giờ dạy văn, học sinh có thể quên đi tất cả, nhưng cái còn lại có thể rung động cả một đời người.

Ghi nhớ và suy ngẫm về những điều GS. Trần Văn Bính truyền đạt từ 30 năm trước, tôi càng thấy cần phải yêu cầu cao đối với bản thân. Trong giảng dạy cũng như trong nghiên cứu văn chương. Tất thảy không nằm ngoài mong mỏi tiếp bước xứng đáng con đường thế hệ đi trước đã dồn nhiều tâm huyết và trí tuệ để khai mở. Chắc đó không chỉ  là ý nguyện của riêng tôi.                      

                                                                                                                           Đà Lạt, 16/4/2001