Nhà điêu khắc Vũ Long

Có thời gian dài anh Vũ Long đảm trách công tác quản lý, làm phó Giám đốc Sở, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ Thuật Lâm Đồng. Nhưng trong bài này tôi xin được viết về anh với tư cách một nhà điêu khắc – hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Vũ Long bước chân vào trường Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu, Hà Nội) từ rất sớm, năm 1959. Anh chọn nghảnh Điêu khắc. Ban đầu là trung cấp, chương trình kéo dài 3 năm. Học xong năm thứ II, anh được hưởng hai sự đặc cách: tốt nghiệp trung cấp và chuyển thẳng lên học cao đẳng (bấy giờ trường mỹ thuật Việt Nam chưa có đại học như bây giờ). Học thẳng cao đẳng được xem là đặc cách vì người tốt nghiệp trung cấp mỹ thuật thường phải ra công tác một thời gian khi có nhu cầu lại phải dự kì thi tuyển, đậu mới được học lên. Những người thầy đào tạo anh khi ấy là những nhà điêu khắc nổi tiếng như: Lê Công Thành, Phạm Gia Giang, Nguyễn Thị Kim...

Thời Vũ Long học ở trường Mỹ thuật, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta đang bước vào giai đoạn ác liệt. Nhiều mất mát hy sinh, mà cũng thật nhiều chiến công hiển hách. Đã xuất hiện biết bao tập thể và cá nhân anh hùng. Để hun đúc lòng yêu nước và gợi cảm hứng sáng tạo cho các nhà mỹ thuật tương lai, trường anh cũng như các trường đại học khác, có nhiều hình thức tuyên truyền động viên thiết thực, bổ ích. Và hiệu quả thật rõ rệt. Còn nhớ, ngay sau khi xem cuộc triển lãm mỹ thuật về đề tài miền Nam anh hùng ở trường nhân ngày đấu tranh thống nhất đất nước 20/7, một bức phù điêu “Tây Nguyên bất khuất” đã được anh hoàn thành. Vũ Long thường xuyên đi thực tế cùng các bạn trong lớp. Bức tượng “Công nhân cầu đường” là một trong những tác phẩm được anh thực hiện sau những chuyến đi nhiều ấn tượng ấy. Chính hiện thực sôi động, giàu ý nghĩ đã thổi vào tác phẩm một linh hồn thể hiện sức sống mới. Thành công có được cũng nhờ đó. Bức tượng được lưu giữ ở viện bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và được in trong tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam đầu tiên năm 1975. Đặc biệt, Vũ Long còn tham gia công trình điêu khắc tập thể mang tên “Quân dân Nam Ngạn chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đây là công trình tượng đài hoành tráng đầu tiên ở nước ta. Các thành viên lớp anh là đồng tác giả. Gọi là “lớp” nhưng cũng chỉ có 6 người. Sau này, có người đã hy sinh ở chiến trường miền Nam. Giờ còn Lê Đình Quý (Thanh Hóa), Nguyễn Khắc Nghi (Hải Phòng), Lê Đức Lai (trường Đại học Kiến trúc Hà Nội)... Để lấy chất liệu sáng tác, các anh đã phải sống suốt 3 trời gần Hàm Rồng – Thanh Hóa, chứng kiến nhiều sự tích anh hùng của nhân dân Nam Ngạn nhất là của Đội dân quân với nhiều tên tuổi sáng chói như Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng ...

Nhờ những thành công bước đầu trong nghề nghiệp, và nhờ những sáng kiến trong quá trình học tập (như sáng kiến nặn tượng theo trí nhớ), Vũ Long được cấp bằng tôt nghiệp trước thời hạn vào năm 1966. Tháng 11 năm đó, anh tình nguyện vô Nam. Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời sáng tác của anh với tư cách là người nghệ sĩ. Anh được phân công đi B2. Những tháng ngày vượt Trường Sơn gian khổ, ác liệt... Bao nhiêu thứ trên vai. Tư trang được giảm xuống tối thiểu để ưu tiên cho súng đạn và lương thực. Mới đầu, anh công tác ở Ban Tuyên huấn Lâm Đồng, và từ năm 1972 ở Ban Tuyên huấn Khu 6. Công việc chính của anh là tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng ở các địa phương. Ngoài ra, anh còn cùng các đồng chí, đồng đội của anh làm rẫy tự túc lương thực. Con người nghệ sĩ thật sự hòa quyện với con người công dân trong anh. Hàng trăm ký họa ghi lại những khoảnh khắc hào hùng, những chân dung quả cảm là những chất liệu sáng tạo quý giá giúp Vũ Long hình thành những tác phẩm quy mô trong tương lai. Nhiều kỷ niệm sâu sắc anh không thể nào quên được.

Năm 1969, Bác Hồ qua đời – bằng giọng nói đầy xúc động, Vũ Long kể lại – Đau xót và tiếc thương, tôi đã lấy ống phóng bom bi bằng nhôm dàn phẳng ra rồi lấy dao sắc khắc hình Bác lên đấy. Nhiều đồng chí lãnh đạo ở cơ sở đã xin tôi, vì hành Bác chạm khắc trên mặt kim loại dễ bảo quản mà.Tôi đã chạm nhiều bức hình Bác Hồ như thế. Đặc biệt, trong một trận càn của địch ở một căn cứ huyện ủy nọ, kẻ thù đốt sạch, riêng nhà nơi treo ảnh Bác do tôi chạm thì chúng không đốt. Có thể một tên ngụy nào trong chúng vì kính trọng Hồ Chí Minh mà đã làm việc ấy và mang theo tấm ảnh Bác. Tôi cứ ước ao một ngày nào đó sẽ nhận lại bức ảnh chạm khắc này – Đó là bằng chứng xác nhận thêm uy tín của lãnh tụ chúng ta.

Tôi hiểu, bởi hình tượng Bác Hồ sẽ còn trở đi trở lại nhiều lần trong sáng tác của Vũ Long.

Năm 1976, sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 1 năm, tôi ra Bắc – Cũng vẫn với giọng chân tình, Vũ Long kể tiếp – việc đầu tiên là tôi vào Lăng viếng Bác. Đoàn người dằng dặc, im lặng và thành kính. Là một nghệ sĩ, tôi muốn cảm nhận đầy đủ con người Bác để có dịp thể hiện trong tác phẩm. Tôi đã 3 lần gần như quỳ xuống ngắm Bác trong tầm mắt mình, cả 3 lần tôi đều nghe thấy lời nói nghiêm khắc, rành rọt, đủ nghe: “Đề nghị đồng chí đứng dậy!” Vừa ra khỏi Lăng, một đồng chí công an theo tôi hỏi lý do, Tôi thành thực nói rõ ý định của mình. Đồng chí ấy cảm động đưa tôi quay lại, đứng ở hàng đầu tiên, để tiếp tục viếng Lăng Bác một lần nữa. Sau chuyến đi đó, vào Đà Lạt, tôi nặn 4 bức tượng Bác, một bức hiện đang đặt ở Hội trường số 1 Nguyễn Du.

Vang, tôi biết bức tượng ấy cũng như nhiều bức tượng khác của nhà điêu khắc Vũ Long như: phù điêu gò đồng “Giai điệu Tây Nguyên”, phù điêu gò nhôm “Đi phía trước”, tượng xi măng “Tất cả cho tiền tuyến”...

Thế giờ đây anh có ước ao gì? – Tôi hỏi. Anh chỉ vào bức tượng cao chừng hơn 1 mét đặt ở phòng khách nói:

Đây là công trình mang tên “Tượng đài chiến thắng”. Tôi ấp ủ trong nhiều năm trời. Giá nó được xây dựng ở đâu đó trên thành phố của chúng ta thì thật là hạnh phúc cho một nghệ si suốt đời gắn bó với chiến tranh và cách mạng.

Đó là bức tượng người phụ nữ dân tộc K`Ho, với bộ ngực nở căng, mắt nhìn xa, chân thanh thản bước tới, tay phải cầm chắc khẩu AK mũi súng chĩa xuống đất, tay trái cầm bông hoa hồng đưa ra phia trước.

Liệu tính hoành tráng có giảm đi không nếu “Tượng đài chiến thắng” duy nhất chỉ có một người? – Tôi băn khoăn hỏi.

Anh lưu ý giúp: đó là người phụ nữ. Dân tộc ta có truyền thống: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Phụ nữ phải cầm súng là tận cùng của sự ác liệt rồi. Vả lại, nếu đưa vào tượng đài các tầng lớp thì biết bao nhêu cho đủ đây? Cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến tranh nhân dân mà!

Còn bộ ngực của người chiến thắng? Để trền không mặc áo?

Đó là phong tục nhưng trên hết là quan niệm, “Đẹp khoe, xấu che” như đồng bào thường nói. Bao thế hệ đã hiến dâng sức thanh xuan cho cuộc kháng chiến vĩ đại, không hề do dự và nuối tiếc. Sức mạnh làm nên chiến thắng là ở đấy.

Còn khẩu súng chúc mũi xuống đất?

Khẳng định chiến tranh đã kết thúc, một giai đoạn mới tươi sáng đã bắt đầu. Tôi cho người phụ nữ vẫn cầm chắc cây súng, nhưng không giương cao lên, và chiến thắng những tên đế quốc hùng mạnh nhất, mà không phô trương, bản chất của người phụ nữ Việt Nam đồng thời cũng là bản chất của con người Việt Nam ta.

Tôi nhìn vào cặp mắt đầy ưu tư đang hướng ra phía cửa sổ của anh. Bên ngoài trời Đà Lạt xanh trong, mát dịu.

Xin chúc anh sức khỏe và hoàn tất mọi dự đồ sáng tạo lớn lao của đời mình.

                                                                                                                  Đà Lạt, 12/12/2000