Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, một thoáng gần

Tôi chưa bao giờ có cái diễm phúc được gần gũi ông hoặc được ông xem là người gần gũi. Có phần khác với các giáo sư cùng thế hệ ông như Gs. Trần Văn Bính, Gs. Trần Thanh Đạm, Gs. Lê Đình Kỵ, Gs. Phương Lựu… Tôi luôn vừa được xem là học trò vừa được xem là đồng nghiệp, ranh giới đôi khi bị xóa nhòa, mà phía chủ động thường từ các thầy tôi. Ở Gs. Nguyễn Văn Hạnh toát lên một chút gì đó có phần cao đạo, khiến cho nhiều người thuộc thế hệ  chúng tôi cảm thấy cứ ngài ngại khi cùng làm việc với ông. Cũng phải thôi, có thời ông đã làm đến phó Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương kia mà. Phải thật sự là người giỏi giang. Tài mà có cốt kiêu thì dễ được người đời bỏ qua. Đấy, anh cứ học họ mà kiêu đi, dễ chừng biến thành ngô nghê, thành đối tượng gây cười cho bao kẻ khác. Vả chăng, cùng với con người khoa học, Gs. Nguyễn Văn Hạnh còn có con người nghệ sỹ ở bên trong. Cái quý nhất ở nghệ sỹ là cá tính, nơi trang viết và cả trong cuộc đời. Đôi khi ta buộc phải chấp nhận nếu không muốn rơi vào cố chấp tầm thường.

Không được ông xem là gần nhưng có lẽ tôi cũng được Gs. Nguyễn Văn Hạnh để mắt đến từ nhiều năm trước, từ ngày ông chuyển về công tác ở  thành phố Hồ Chí Minh. Đà Lạt nơi tôi ở thi thoảng  được đón tiếp ông, thường là với tư cách của một giáo sư thỉnh giảng. Một lần, đâu như vào năm 1995, tôi lên thăm và trò chuyện ít phút với ông, rồi nhân thể tặng ông cuốn “Văn chương với Lê Quý Đôn”  vừa được Nhà xuất bản Giáo dục cho ấn hành. Sau đó chừng hai ngày, tôi lên chia tay ông. Tôi không quên lời nhận xét đầy khích lệ của ông: “Cậu có khả năng nghiên cứu văn học đấy, gắng lên!” Tôi coi đó là lời khen, lại là lời khen của một người khó tính, trong cái quan hệ không nhất thiết phải khen. Người bận rộn như ông đọc cho là quý rồi, nếu có vì lịch sự mà nhận sách, rồi mang về xếp vào tủ thì cũng chẳng vì thế mà dám trách cứ làm gì. Ông còn tâm sự: “Cậu đi vào văn học trung đại là hay đấy! Nó ổn định. Mình gắn với hiện đại, thay đổi luôn, nhiều lúc thấy nản”. Vậy là ông không chỉ đọc tôi mà còn có nhận xét, có suy ngẫm. Tôi mạnh dạn chia sẻ: “Những cái chưa định hình mới cần nhiều đến bản lĩnh khoa học, thưa thầy!”. Không nói thêm, ông im lặng, cái im lặng của một người trải đời khiến tôi không dám nói gì thêm nữa. Thế là từ đo, không hiểu sao, tôi thấy quý trọng ông hơn.

Bẵng đi một thời gian dài, tôi lại có dịp gặp ông trong đợt bảo vệ luận văn cao học ở Trường Đại học Sư phạm Huế vào đầu năm 2001. Tôi mừng là Gs. Nguyễn Văn Hạnh vẫn còn khỏe. Bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy” mà đi đứng vẫn còn nhanh nhẹn, nói năng vẫn còn khúc chiết, làm việc căng thẳng nhưng ít tỏ ra mỏi mệt như ông phải xem là ước ao của nhiều người cùng lứa. Vừa xuống máy bay, ông đi xe thẳng tới những gia đình thân quen cần thăm hỏi. Trước hết là những người già yếu hoặc gặp hoạn nạn. Họ rất cần được sẻ chia. Mà  số lượng này đâu phải ít. Một thời gian khá dài sau 1975, ông từng là Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Huế. Gian nan chồng chất gian nan. Ay thế mà vui và thật nhiều kỷ niệm. Toàn những kỷ niệm khó quên. Những giáo chức đại học Huế ngày trước tôi gặp còn giữ nhiều ấn tượng đẹp về người Hiệu trưởng của một chính thể mới, giàu hiểu biết, lại có cái nhìn nhân văn, khác xa với những lời tuyên truyền của chính thể cũ. Gs. Nguyễn Văn Hạnh kể cho tôi nghe “ cái thời đẹp nhất” của ông ở Huế. Trọng trách buộc ông lo mọi chuyện cần thiết, từ lớn đến nhỏ, nhất là những cái nhỏ. Ông dạy tôi một điều, chớ xem thường cái nhỏ nhặt trên đời, chẳng phải thượng đế trú ngụ ngay trong những cái nhỏ nhặt đấy sao ! Chẳng hạn, dạo ấy nước hiếm, thường không lên nổi lầu trên. Ông đi kiểm tra, thấy phòng vệ sinh ở đây vẫn mở. Hôi hám không chịu nổi, ông cho niêm phong ngay. Sự sâu sát công việc biểu lộ một ý thức trách nhiệm luôn thường trực nơi ông. Bao người đang trông cậy vào ta. Cũng không thiếu kẻ đang xét nét ta. Cá nhân ta không còn thuộc về riêng ta nữa. Ông còn đem quan niệm của một nhà khoa học nhân văn vào giải quyết nhiều công việc chung, riêng khác nhau. Như ông bảo, khi ấy thầy cô giáo còn trẻ lắm, nhiều người chưa có gia đình. Khu tập thể lại ít và chật. Ông quyết định cứ phân mỗi người một phòng. Ở chung, trai gái làm gì có điều kiện để tìm hiểu nhau. Thì ra, người làm văn học cũng có nhiều thế mạnh trong công việc quản lý con người. Cố nhiên, còn có cả những cái nghịch trong đó. Cần tỉnh táo để phân biệt. Và để chế ngự. Tôi biết không phải lúc nào ông cũng làm được những điều mình muốn. Nhưng tôi ngờ rằng, trong cái không may biết đâu lại có cái may. Như chuyến đi Huế  lần này. Nếu ông còn bận bao việc lớn khác thì làm gì còn thời giờ để lo cho sự nghiệp đào tạo những thế hệ kế cận mà ông vốn ưa thích.

          Do ở những cơ sở đào tạo khác, ông và tôi trong 2 ngày bảo vệ luận văn cao học thường thay nhau làm Chủ tịch hội đồng. Chúng tôi luôn mời ông ngồi ở vị trí danh dự nhất. Ông thuộc thế hệ đi trước, ở cương vị nào, chúng tôi cũng cần phải kính trọng ông. Nếu không nghĩ được vậy thì thế hệ sau sẽ nhìn chúng tôi ra sao đây. Ban đầu, ông có vẻ e ngại, nhưng rồi thầy trò cũng hiểu nhau. Chỉ là lễ nghi giao ước thôi mà. Cái quan trọng nhất là từ trong sâu thẳm lòng mình chúng tôi luôn quý trọng ông – một nhà khoa học luôn khe khắt với bản thân nên có quyền khe khắt với người khác. Ngay cả học viên được ông trực tiếp hướng dẫn, ông cũng hạ bút cho điểm 7,0 (điểm thấp nhất so với cả khóa). Chắc ông nghĩ phải cho họ thấy họ là ai. Thạc sĩ chỉ là chặng đầu của con đường khoa học thăm thẳm, dằng dặc ở phía trước. Ngay những luận văn khá nhất, ông cũng chỉ ra những cái cần hoàn thiện. Phải phòng ngừa cái bệnh kiêu ngạo vốn là kẻ thù của một nhân cách khoa học đích thực ngay từ điểm khởi đầu.

          Xa Gs. Nguyễn Văn Hạnh, tôi cứ như còn thấy ông đang đi trên đường Lê Lợi cùng Ts. Lương Ngọc Bính vừa chuyển sang đảm trách công tác mới ở Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Bình. Ông trao đổi với anh Bính rất nhiều về công việc. Ông như đang sống lại những tháng ngày sôi nổi và ý nghĩa trước kia. Tôi rất biết, chúng không khi nào phai mờ trong ký ức của một nhà khoa học đồng thời là một nhà văn như ông.