Quan niệm tiếp nhận văn chương của M. Naumann

    

 Bấy lâu nay, khi tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận văn chương hiện đại, ta thường chỉ quen tiếp cận với quan niệm của Trường phái Konstanz (Cộng hòa Liên bang Đức) với hai tên tuổi lớn là H. Jauss và W. Iser. Thiết nghĩ, nghiên cứu trong sự đối sánh với khuynh hướng có chiều đối lập là việc làm cần thiết. Đó là lý do khiến các nhà lý luận tìm đến quan niệm của  M. Naumann.    

    Nhà lý luận Cộng hòa dân chủ Đức cũ M. Naumann là Chủ biên cuốn Xã hội - Văn học - Đọc. Tiếp nhận văn học trong nhãn quan lý luận (Berlin, 1973) đã đưa ra quan niệm nhằm điều chỉnh khuynh hướng thái quá trong nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận hiện đại rất đáng chú ý. Điều này biểu hiện rõ trong bài Song đề của “mỹ học tiếp nhận” in trên Tạp chí Văn học (Viện Văn học, Việt Nam) số 4/1978. Mặc dầu lời Tòa soạn Tạp chí Văn học xác định “những báo cáo khoa học này nghiên cứu trên tinh thần phê phán các quan điểm tư sản về tiếp nhận văn học”, ý nghĩa khách quan của quan niệm vẫn được toát lên hầu như trong toàn bộ bài viết.

    Chỗ xuất phát của nhà lý luận M. Naumann không gì khác mà chính là thực tiễn văn chương (*). Đây là điểm tựa chắc chắn giúp lý luận không rơi vào "xám ngắt". Ông xác nhận: “Như vậy là những thế lực cho đến ngày hôm nay vẫn đối đầu nhau trên bãi chiến trường văn học, mà khi thế lực này khi thế lực kia giành được chiến thắng, đã hoàn toàn tập hợp lại: một bên là tác giả với tư cách là kẻ sáng tạo đang trên đường tìm kiếm một người đọc tương đắc; một bên là tác giả với tư cách là người viết văn đang thỏa mãn những nhu cầu thấp kém của những người đọc thực sự; một bên là tác phẩm có nguồn gốc cao quý tự xem mình là một cá tính toàn vẹn; một bên là tác phẩm có nguồn gốc thấp hèn mang hình dáng một kẻ tôi đòi và đang cố gắng làm hài lòng ông hoàng khách hàng người đọc; và cuối cùng là mỹ học về văn học, mà rõ ràng do tính xốc nổi hoặc không cưỡng được sự ham muốn tạp hôn, nên khi thì ngã vào vòng tay của kẻ sáng tạo, khi lại ngã vào vòng tay của kẻ viết văn… và không biết kiềm chế để khi thì ngoặc với người đọc tinh thần và khi khác lại ngoặc với người đọc hiện thực (1, tr.121).Một cái nhìn phải nói là khá bao quát. Thứ công chúng vô danh nói trên, theo cách gọi của M. Naumann, đã thật sự chi phối tới lý luận: “Việc tách rời cái có tính chất xã hội với cái có tính chất thẩm mỹ, cái hữu ích với cái đẹp, giá trị sử dụng với giá trị riêng, chức năng xã hội với chức năng thẩm mỹ của văn học, lối quan sát xã hội học với lối quan sát theo mỹ học về văn học - những mâu thuẫn này… ngày hôm nay ngự trị một cách sâu rộng các cuộc tranh luận về lý luận văn học” (1, tr.123). Lối đặt vấn đề ở đây khá trực diện với một thái độ thắng thắn.

Mỹ học marxism nếu muốn "xanh tươi" thì không thể làm ngơ trước thực tiễn trên. M. Naumann cho rằng, đối với lý luận văn chương mác xít, thì những điểm tranh luận giữa sản xuất văn học và tiếp nhận văn học đã trở thành quan trọng về mặt lý luận khi mà vào “khoảng những năm 90 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX)” "nổi lên hai vấn đề có tính chất thực tiễn” như là những điểm tranh luận chính của mỹ học marxism”. Theo ông, đây là hai vấn đề tiếp cận và  thâm nhập vào nhau. “Một là, giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tính thời sự và tính lịch sử của giá trị văn chương; và hai là, mảnh đất liên hệ xã hội học của những vấn đề về sự sản xuất thẩm mỹ, sự thể hiện thẩm mỹ, về hiệu quả thẩm mỹ và về tiếp nhận thẩm mỹ mà ” (1, tr.128). Chẳng phải ngẫu nhiên mà trước đây, khi bàn tới sự cách tân lý luận kịch của B. Brecht, có người dịch verfremdung  gián cách, còn verfremdungseffe  hiệu quả gián cách. Cần lưu ý, gián cách trong tiếng Đức có từ biểu hiện riêng là dislanz. Vì vậy, để chú ý thích đáng tới vai trò của người xem kịch, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Vân, nên dịch các thuật ngữ trên là lạ hóa  hiệu quả lạ hóa (1, tr.131).

             Rõ ràng, theo M. Naumann, lý luận tiếp nhận hiện vẫn là cái cực đã bị bỏ trống trong lý luận, trong đó có lý luận marxism (1, tr.123). Ông nhắc tới ý kiến của Iu. Lotman, khi nhà cấu trúc luận danh tiếng người Nga này cho rằng, cả những mối liên hệ không được vật chất hóa cũng thuộc vào văn bản, nếu như chúng được phác họa trên cái nền của văn bản, làm cho người ta nhận thấy được sự khiếm khuyết của chúng và do đó có thể đọc ra được những mối liên hệ không được vật chất hóa trong một hệ thống phương pháp trừ (1, tr.124). Từ đó, M. Naumann chỉ ra rất đúng là: “Những công trình giúp cho khoa văn học tái phát hiện ra người đọc chỉ được chính khoa nghiên cứu văn học tạo ra một phần rất nhỏ (chủ yếu là do vai trò của ngôn ngữ học, xã hội học, lý thuyết ký hiệu, lý thuyết thông tin” (1, tr.124). Trên cơ sở những thành tựu to lớn của các ngành khoa học xã hội - nhân văn, theo ông, lý luận văn chương buộc phải nhìn nhận lại chính mình: “Khối những công trình nghiên cứu lịch sử tiếp nhận và lịch sử hiệu quả chứng tỏ rằng nhiều nhà ngữ văn đã xem sự xuất hiện của người đọc, dù cho đó là người đọc tiềm ẩn, hay người đọc hiển hiện, và sự xuất hiện của tiếp nhận - với tư cách là những đối tượng nghiên cứu, như là một sự giải thoát ra khỏi tình trạng hão huyền của những tập quán giải thích theo chủ nghĩa lịch sử, chủ nghĩa thực chứng hay chủ nghĩa hình thức” (1, tr.124). Đây là những căn bệnh khá phổ biến, khá trầm kha trong nghiên cứu hiệu quả tiếp nhận.

    Song, với tinh thần khoa học tỉnh táo, M. Naumann không khỏi nghi ngờ những dự báo  hy vọng của nhiều nhà nghiên cứu văn chương khi họ quả quyết rằng mỹ học tiếp nhận “báo hiệu buổi bình minh của một sự thay đổi khuôn mẫu khoa học” (1, tr.125). Như thế là cực đoan. Ông khẳng định một cách khác: “Tôi chẳng nhìn thấy rõ lắm một sự thay đổi khuôn mẫu hơn là một sự dao động của một con lắc. Thay vào chỗ nghiên cứu lịch sử hình thành, giờ đây người ta nghiên cứu lịch sử hiệu quả, hay lịch sử tiếp nhận, thay vào chỗ nghiên cứu tác giả, người ta nghiên cứu người đọc, thay vào chỗ phân tích tác phẩm là phân tích công chúng, thay vào chỗ mỹ học biểu hiện là mỹ học ấn tượng và thay vào chỗ mỹ học sản xuất là mỹ học tiếp nhận: khuôn mẫu vẫn chỉ là khuôn mẫu ấy, duy chỉ có chỗ đứng để quan sát là đã đảo ngược…”. Như thế có nghĩa là nghiên cứu văn chương thoát khỏi tình trạng hão huyền này lại rơi vào tình trạng hão huyền khác. Do vậy, ông tin chắc: “Cuối cùng (nghiên cứu văn chương) sẽ được giải thoát ra khỏi cái tình trạng hão huyền” mới, tức xu hướng tuyệt đối hóa vai trò của lý thuyết tiếp nhận (1, tr.125).

    Không dừng ở đó, đi xa hơn, M. Naumann còn gắng chỉ ra những nguyên do bề sâu của cái nhìn cực đoan nói trên: “Một trong những nguyên nhân đó, theo tôi, là ở chỗ mỹ học tiếp nhận, một mỹ học đã đóng một vai trò khá quan trọng trong việc giải phóng người đọc, đã tự mình cho đến giờ vẫn bỏ rơi việc định nghĩa mối liên hệ qua lại giữa các vấn đề mà nó chú trọng một cách đúng đắn với các vấn đề của mỹ học sản xuất và mỹ học thể hiện” (1, tr.125). Nói khác đi, mọi chuyện diễn ra theo chiều hướng xấu là do cái nhìn thái quá, về phía khác, của chính các nhà nghiên cứu. Đáng lẽ đi tìm “mối liên hệ” cần phải có giữa mỹ học tiếp nhận, mỹ học hiệu quả với mỹ học sản xuất, mỹ học thể hiện, thì nhiều nhà nghiên cứu lại chỉ chú trọng đề cao một lĩnh vực nhất định nào đó. Để tăng thêm sức nặng của lý lẽ, M. Naumann còn đưa ra ý kiến của nhà lý luận marxist G. Lukács, nhằm biện hộ cho quan niệm của mình: “Tác phẩm không cần có sự thêm thắt nào về phía người tiếp nhận để chứng tỏ là một giá trị. Sức mạnh của tác phẩm là sức mạnh khêu gợi. Tác động của người tiếp nhận đối với tác phẩm hoàn toàn không có ảnh hưởng trở lại nào đối với bản chất của nó. Trong sự vận động này không phải tác phẩm biến đổi đi mà luôn luôn chỉ có người tiếp nhận bị biến đổi… Tức là xem nó (tiếp nhận) như là một quá trình mà xét cho cùng chẳng quan trọng gì về mặt mỹ học. Tiến trình ấy (tiếp nhận) không mang lại cho người ta một sự hiểu biết nào về tác phẩm mà chỉ cho người ta biết về cái cơ cấu ý thức của người tiếp nhận. Vì vậy nó không có ý nghĩa gì về lịch sử văn học mà nhiều lắm cũng chỉ có ý nghĩa về lịch sử văn hóa” (1, tr.131). Cố nhiên, trên thực tế, ý kiến này lại rơi vào cực đoan khác, chẳng mấy thuyết phục, tuy không phải là hoàn toàn vô căn cứ.

    Khi viết tập Xã hội - Văn học - Đọc. Tiếp nhận văn học trong nhãn quan lý luận,  M. Naumann xuất phát từ chỗ, “cho rằng nhu cầu của người đọc hiện thực về những tác phẩm có thể đem lại cho họ những khả năng đồng cảm và đồng nhất, và có thể có những chức năng thanh lọc, là hoàn toàn chính đáng…”. Vậy thì: “Đối với chúng tôi, vấn đề quan trọng không phải ở chỗ xây dựng một ‘mỹ học tiếp nhận’ mà là ở chỗ tìm hiểu vấn đề là sản xuất, phân phối và tiếp nhận phụ thuộc vào nhau như thế nào. Với mục tiêu và điểm xuất phát ấy, như chính tác giả thừa nhận: “Đương nhiên là như thế sẽ làm rơi rụng mất một số vấn đề nào đó sinh ra từ tiếp nhận trong mối quan hệ này. Theo logic thì một cuốn sách bàn về một đối tượng như vậy là có thể chấp nhận được, chỉ cần phải phân biệt là trong cuốn sách đó khía cạnh sản xuất sẽ quyết định cái lăng kính dùng để quan sát những mâu thuẫn tự thân của mối quan hệ này (1, tr.132). Rõ ràng, người Chủ biên của tập sách đã lường trước một cực đoan khác khó tránh khỏi trong việc thực thi mục tiêu nghiên cứu xác định của mình. Hài hòa nhiều cái nhìn khác nhau ở đây là thật sự cần thiết.

    Từ những gì đã trình bày, M. Naumann cho rằng: “Nếu như có lúc nào đó trong thời gian vừa qua đã thật sự có một sự thay đổi khuôn mẫu trong mỹ học, thì đó sẽ là ở chỗ này: mỹ học tiếp nhận đã phát hiện ra ở đây không có gì khác hơn là người đọc hiện thực, mà cho đến giờ vẫn bị nó đẩy ra khỏi biên giới của cái thẩm mỹ để thành một thứ tầm thường hèn kém” (1, tr.134). Đúng ra đó là mong ước của chính ông. Để rồi, ông hoàn toàn có cơ sở đi tới kết luận: “Dù sao thì vẫn có vẻ như là mỹ học tiếp nhận hiện thời ít quan tâm đến việc xây dựng một kiểu mỹ học sản xuất, mỹ học thể hiện nhất định dựa trên những đề án của nó. Hơn nữa, người ta có thể phỏng đoán rằng, ngược lại, mỹ học tiếp nhận đang trên đường tìm kiếm một mỹ học sản xuất, mỹ học thể hiện đáp ứng được những nhu cầu về thanh lọc của người đọc hiện thực” (1, tr.134). Có thể xem đó là một lối nhìn hài hòa cần thiết. Bởi, ngay nhà lý luận nổi tiếng H. Jauss - một trong những người sáng lập nên Trường phái Mỹ học tiếp nhận, góp phần quyết định làm thay đổi tư duy lý thuyết của nhân loại vào những năm 1960 - 1970 cũng đã nhận xét về luận thuyết của mình như sau: “Phương pháp (theo Mỹ học tiếp nhận) với những cơ sở vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn…, nó không thể một mình đóng góp vào cái mới hiện tại của công việc nghiên cứu nghệ thuật” (2, tr.73). Một cái nhìn uyển chuyển, khoáng đạt, với thái độ mềm mại, bao dung tỏ ra hoàn toàn thích hợp với tư duy lý thuyết hiện đại mà tinh thần chủ yếu là “ngoài khoảng trời này còn có những khoảng trời khác nữa”.

.........................................................................................................................................................................................................................................

(*) Những chỗ in nghiêng trong bài là do tác giả bài giới thiệu này chủ ý nhấn mạnh.

(1) Tạp chí Văn học, Viện Văn học, số 4/1978.

(2) Nguyễn Văn Dân - Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, HN, 1999.

 

Comments