Nhật ký đọc I. Kant 1

                                                         (Đọc cuốn Phê phán năng lực phán đoán (*) của I. Kant)

1. Trong ý thức triết học sâu xa và độc đáo của mình, I. Kant luôn phân biệt Học thuyết - cái có mục đích gần như duy nhất là làm gia tăng tri thức và Phê phán - công việc không có chức năng làm tăng thêm tri thức nhưng có một vai trò cực kỳ quan trọng hỗ trợ việc lập thuyết, nhất là trong việc chỉnh sửa các học thuyết một khi vì những nguyên cớ chủ quan và khách quan khác nhau nên chúng bị “cong vênh”, nghĩa là sa vào lầm lạc thường là do vô thức. Ông cho rằng, công việc duy nhất của Phê phán là căn cứ vào hiện trạng của một ngành khoa học nào đó để xét xem một cách kỹ càng, khách quan “vô vụ lợi” rồi đi tới hai kết luận: Một là, có thể xem đó là một “học thuyết” hay không? (Nghĩa là học thuyết ấy có thể mang tính khoa học không?); Hai là, nếu đã quả quyết đó đích thực là một học thuyết có tính khoa học thì “học thuyết” ấy cần mang một hình hài như thế nào? Vai trò của tinh thần “phê phán” với ông vậy đâu có nhỏ: nó kiểm soát và định hướng việc tạo lập một ngành khoa học, làm nên sức mạnh và sức sống của ngành khoa học ấy - sức mạnh cho lý thuyết và sức sống cho thực hành (tr.18).

2. Khi bàn về năng lực tinh thần của con người, ở một tầm bao quát nhất, I. Kant khẳng định: Mọi năng lực đều có thể quy về ba loại năng lực là nhận thức, tình cảm và ham muốn. Thực ra, có lẽ không nên định danh đó là những năng lực mà nên gọi đó là những năng lượng tinh thần - PQT nhấn mạnh, của con người, trong đó ham muốn là khó định nghĩa hơn cả. Ông bảo ham muốn quan năng mà thông qua các biểu tượng của mình là nguyên nhân cho tính hiện thực của những đối tượng của các biểu tượng ấy. Một cách định nghĩa đúng theo phương thức tư duy quen thuộc của ông theo trong trục: biểu tượng (trong óc con người) - quan năng (khí cụ của óc người ) - đối tượng (cái mà óc người hướng tới). Tôi muốn hiểu ham muốn biểu tượng có ý nghĩa như một thứ động lực bên trong thôi thúc con người thực hiện nó, làm nên tính hiện thực của nó. Nếu nói riêng năng lượng nhận thức, thì theo I. Kant, ngoài quan năng nhận thức cao cấp giác tính và lý tính, còn có năng lực phán đoán vốn là một quan năng trung gian nằm ở giữa hai quan năng vừa nêu. Đặc điểm của quan năng phán đoán là tuy không có một thẩm quyền ban bố quy luật (như giác tính), nhưng vẫn có thể (và cần phải) chứa đựng hệ thống nguyên tắc riêng nhằm mục đích đi tìm các quy luật, mặc dù hệ thống nguyên tắc ấy chỉ là tiên nghiệm (không thường nghiệm) và đơn thuần chủ quan (tr.19).

3. Đi sâu vào năng lực phán đoán, I. Kant định nghĩa: Năng lực phán đoán nói chung là quan năng suy tưởng cái đặc thù như là chứa đựng bên dưới cái phổ biến. Vậy chức năng của năng lực phán đoán được xác định rất rõ: như con thoi đi lại giữa cái phổ biến (các quy tắc, nguyên tắc, quy luật) và cái đặc thù (muôn hình vạn trạng lại luôn thay đổi). Trong trường hợp cái phổ biến đã được xác lập thì nó làm công việc thâu gộp cái đặc thù vào dưới cái phổ biến ấy. Khi đó nó được định danh là năng lực phán đoán [có chức năng] xác định. Còn nếu cái đặc thù đã được mang lại (tình trạng này khá thường xuyên trong đời sống, rất cần được tập hợp và soi tỏ), nhưng còn phải đi tìm cái phổ biến cho chúng (cái đặc thù), thì bấy giờ, năng lực phán đoán sẽ đơn thuần [có chức năng] phản tư (tr.23).

Từ đó, I. Kant tập trung giải thích câu hỏi: Tại sao cần phán đoán phản tư? Ông viết: “Giác tính tuy sở hữu một cách tiên nghiệm những quy luật phổ biến về Tự nhiên, mà nếu không có chúng, hẳn Tự nhiên sẽ không thể trở thành đối tượng của kinh nghiệm, nhưng ngoài điều đó ra, giác tính còn cần có một trật tự nào đó của Tự nhiên trong những quy tắc đặc thù [cho cái đa tạp]: những quy tắc này chỉ có thể được giác tính nhận thức bằng con đường thường nghiệm và xét về mặt ấy, là có tính bất tất. [Song], đối với chúng - tức đối với những quy tắc đặc thù…, giác tính phải suy tưởng chúng như là những quy luật (nghĩa là có tính tất yếu), vì nếu khác đi, chúng ắt không tạo nên được một trật tự tự nhiên - (tr.33). Nói khác đi, còn có rất nhiều những hình thức đa tạp của tự nhiên mà nhận thức chưa thể làm chủ được, và luôn thôi thúc đầu óc của con người vươn lên chiếm lĩnh, nhằm mở rộng, làm giàu có thêm kinh nghiệm, cũng như có nhiều sự biến thái tương ứng của những khái niệm siêu nghiêm phổ biến… Những biến thái ấy là biểu hiện của những khái niệm và quy luật siêu nghiệm vốn có và là tất yếu cho nên ở đây cũng phải cần có những quy luật cho những hình thức đa tạp (và những biến thái đa dạng) ấy. Nhưng những quy luật này chỉ là “thường nghiệm, nên có thể mang tính bất tất xét theo cái nhìn của giác tính chúng ta”. Có điều, theo bản tính tự nhiên nơi con người luôn lên tiếng đòi hỏi thì những quy luật đó “cũng phải được xem như là tất yếu bắt nguồn từ một nguyên tắc về tính thống nhất [hay nhất thể] của cái đa tạp, cho dù đối với ta, nguyên tắc này là không thể nhận thức được [bằng giác tính]” - (tr.24). Bởi, quan năng phán đoán, như đã được xác định, không có chức năng ban bố quy luật đem lại nhận thức bằng các phạm trù về đối tượng như quan năng giác tính.

Nguyên tắc tiên nghiệm, “vì sự định hướng cho chính mình”- (tr.32), mà quan năng phán đoán tự đề ra nhằm đảm bảo tính thống nhất (hay quy luật nhất thể) của cái đa tạp với chức năng“chỉ bảo chúng ta nên phán đoán như thế nào?” - (tr.30). Quan năng phán đoán, muốn thực thi chức năng ấy của mình, theo I. Kant, “buộc phải thừa nhận như một nguyên tắc tiên nghiệm rằng: điều mà đối với cái nhìn của con người là bất tất trong những quy luật tự nhiên đặc thù (thường nghiệm) thì vẫn mặc nhiên chứa đựng sự thống nhất của quy luật ở trong sự nối kết của cái đa tạp của nó thành một kinh nghiệm khả hữu” - tr.32. Sự thống nhất ấy chính là mục đích và tính hợp mục đích mà phán đoán hướng tới thể hiện. Ông giải thích điều này như sau: “Bây giờ, ta gọi mục đích là khái niệm về một đối tượng, trong chừng mực khái niệm ấy đồng thời chứa đựng cơ sở cho [tính] hiện thực của đối tượng ấy; và gọi sự trùng hợp [hay nhất trí] của một vật với đặc tính cấu tạo ấy của những sự vật - tức là các đặc tính chỉ có thể có được dựa theo các mục đích - là tính hợp mục đích về hình thức của chúng” (tr.26). Việc xác định nguyên tắc mục đích và quy luật phù hợp với mục đích như vậy là nhất quán trong ông. Nên lưu ý:  nguyên tắc và quy luật này chỉ có ý nghĩa đối với phán đoán phản tư chứ tuyệt nhiên không có ý nghĩa với phán đoán lô gíc - xác định nên “không thể thấu hiểu được” đối tượng nhắm tới yêu cầu nhận thức, mà chỉ giới hạn trong việc “suy tưởng được cho ta” – (tr.32). Nói khác đi, “khái niệm siêu nghiệm này về tính hợp mục đích của Tự nhiên… không gắn thêm thuộc tính nào vào cho đối tượng cả (tức vào cho Tự nhiên), mà chỉ hình dung phương cách duy nhất mà ta phải tiến hành trong khi phản tư về những đối tượng của tự nhiên nhằm làm thế nào đạt được tới một kinh nghiệm được nối kết trọn vẹn, cho nên nó là một nguyên tắc chủ quan (châm ngôn) của năng lực phán đoán” - (tr.32). Ông nhận xét thêm rằng, nguyên tắc chủ quan đó hình thành “khi ta bắt gặp [trong thực tế]… những quy luật đơn thuần thường nghiệm”, và nhu cầu “buộc phải giả định có một sự thống nhất”, tuy, xin được nhấn mạnh, chúng “không thể nào nhận rõ và chứng minh được sự hiện hữu của nó” (tr.32&33). Cố nhiên, việc đề ra những quy luật và nguyên tắc đặc thù tạo ra trật tự trên cũng thuộc chức năng của giác tính: “Việc tìm ra trật tự này là công việc của giác tính; công việc ấy được tiến hành nhằm phục vụ cho một mục đích tất yếu của riêng bản thân giác tính, đó là đưa vào trong Tự nhiên sự thống nhất của các nguyên tắc…” - (tr.37). Giác tính không thể đứng ngoài là vì thế!

Như thế, năng lực phán đoán được trang bị một nguyên tắc tiên nghiệm về Tự nhiên, nhưng chỉ về phương diện chủ quan thôi. Nhờ nguyên tắc ấy, năng lực phán đoán đề ra quy luật không phải cho Tự nhiên mà là cho chính mình về Tự nhiên. Mở rộng hơn, I. Kant cho rằng: “Quy luật này có thể gọi là “quy luật về sự dị biệt hóa” đối với những quy luật thường nghiệm của Tự nhiên. Đây không phải là một quy luật được nhận thức một cách tiên nghiệm ở trong tự nhiên, mà do năng lực phán đoán thừa nhận… Cho nên, khi nói rằng: Tự nhiên dị biệt hóa những quy luật phổ biến dựa theo nguyên tắc về tính hợp mục đích của quan năng nhận thức của ta, nghĩa là, cho sự tương thích của giác tính con người trong chức năng tất yếu của nó là tìm ra cái phổ biến cho cái đặc thù… thì ta không hề đề ra một quy luật cho Tự nhiên hay rút ra được quy luật này từ sự quan sát, - mặc dù nguyên tắc đang bàn có thể được sự quan sát này xác nhận. Bởi lẽ: nguyên tắc này không phải là một nguyên tắc của năng lực phán đoán-xác định mà chỉ đơn thuần của năng lực phán đoán-phản tư” - (tr. 35&36). Mọi phân tích, biện giải của ông dầu trừu tượng nhưng đều rõ ràng và nhất quán.

4.  Đến lúc này, I. Kant hoàn toàn có thể đi tới ý tưởng trung tâm về sự hài lòng trong phán đoán phản tư hướng tới mục đích và tính phù hợp với mục đích: “Đạt được mục đích (hay phù hợp với mục đích) luôn gắn liền với tình cảm vui sướng”. Sự so sánh giữa phán đoán xác định tạo ra nhận thức về đối tượng với phán đoán phản tư mang tính chủ quan đã làm nổi rõ điều đó: “Thật ra, ta không và cũng không thể cảm nhận ở trong ta chút tác động nào của tình cảm vui sướng về sự tương hợp giữa sự tri giác với những quy luật dựa theo các khái niệm phổ quát về Tự nhiên (các phạm trù), bởi trong trường hợp này, giác tính tất yếu vận hành theo bản tính tự nhiên của nó một cách không có ý đồ. Trái lại, sự tương hợp được phát hiện giữa hai hay nhiều quy luật tự nhiên thường nghiệm, dị loại với nhau dưới cùng một nguyên tắc bao trùm được cả hai lại là nguyên cớ cho một niềm vui sướng rất rõ rệt, thậm chí cho một nỗi thán phục, và xúc động này không mất đi cho dù đã quá quen thuộc với đối tượng”. Ông không quên một thực tế: “Thế nên, khi phán đoán về Tự nhiên để tìm ra tính hợp mục đích của nó cho giác tính của ta, điều lưu ý là cần có một nỗ lực đưa những quy luật dị loại của Tự nhiên - bất cứ lúc nào có thể - vào dưới quy luật cao hơn, dù bao giờ cũng là những quy luật thường nghiệm thôi, để nếu thành công, ta cảm nhận được niềm vui sướng trước sự tương ứng giữa chúng với quan năng nhận thức, dù sự tương ứng này vốn được ta xem là đơn thuần bất tất”. Đấy là nguyên cớ của sự hài lòng chủ quan mà ông gọi là “niềm vui sướng rõ rệt, thậm chí cho một nỗi thán phục”, đến mức “xúc cảm này không mất đi cho dù ta đã quá quen với đối tượng”. Hiển nhiên, “đành rằng ta không còn cảm nhận niềm vui sướng rõ rệt nữa trước tính có thể hiểu được của Tự nhiên lẫn tính thống nhất của nó trong việc phân chia thành những giống loài…”.  Đó là việc nảy sinh ra niềm hài lòng. Còn ngược lại thì sẽ tạo nên sự không hài lòng, thậm chí I. Kant bảo là “hết sức buồn lòng”: “Ta không vui bởi quan niệm này đi ngược lại nguyên tắc về sự dị biệt hóa thành những loài mang tính hợp mục đích-chủ quan của ta về Tự nhiên cũng như đi ngược lại năng lực phán đoán phản tư của ta về điều này” – (tr.38-39). Ông lưu ý tới hai căn cớ của sự không hài lòng là đi ngược lại không chỉ những “nguyên tắc về sự dị biệt hóa thành những loài mang tính hợp mục đích-chủ quan của ta về Tự nhiên” mà còn đi ngược lại “năng lực phán đoán phản tư của ta về điều này”. Một cái nhìn toàn diện.

5. Đến đây, I. Kant chính thức đi vào điểm then chốt nhất là giải trình tính chất thẩm mỹ của đối tượng. I. Kant xác định như sau:Cái gì đơn thuần là chủ quan nơi biểu tượng về một đối tượng, nghĩa là, cái gì [ở biểu tượng] tạo nên mối quan hệ với chủ thể chứ không phải với đối tượng, thì đó chính là tính chất thẩm mỹ của biểu tượng ấy” - (tr.41).  Để làm nổi bật và sáng tỏ điều này, ông phân biệt tính chất thẩm mỹ với tính chất lôgíc, tức “cái gì nơi biểu tượng phục vụ hoặc có thể được sử dụng cho việc xác định đối tượng (nhằm mục đích nhận thức) thì đó là giá trị lôgíc của nó” - (tr.41). Một đằng - quan hệ thẩm mỹ thì gắn với cảm xúc chủ quan, còn đằng kia - quan hệ lôgíc thì gắn với nhận thức khách quan. Tuy nhiên, điều sau đây mới thật sự quan trọng và tinh tế: “Trong nhận thức về một đối tượng của giác quan, cả hai mối quan hệ này đều cùng xuất hiện bên nhau” - (tr.41). Do vậy rất dễ gây lầm lạc giữa chúng. Tư duy của I. Kant bao giờ cũng triệt để và rành  mạch. Sự phân tách vì thế bao giờ cũng thật mạch lạc. Tuy vậy, trong thẳm sâu suy tưởng của ông, giữa chúng bao giờ cũng có mối liên kết tinh tế, đôi khi rất khó tách bạch. Điều này lộ rõ qua cách lập luận. Phải thấy, đây là hai mặt của một vấn đề, xen kẽ, thậm chí xâm nhập, gắn kết với nhau, như ông nhấn mạnh sau đó: “Vậy tính hợp mục đích của một sự vật, trong trường hợp được hình dung trong tri giác, cũng không phải là tính chất của bản thân đối tượng (bởi một tính chất như thế không thể tri giác được), mặc dù tính hợp mục đích có thể suy ra từ một nhận thức về những sự vật” - (tr.42). Cần lưu ý tới mênh đề tưởng không thật hệ trọng là “trong trường hợp được hình dung trong tri giác”. Như thế có nghĩa là tất cả đều được thông qua tri giác, tức “cảm giác bên ngoài” - cái “diễn tả cái đơn thuần chủ quan của những biểu tượng của ta về những sự vật bên ngoài ta, song, thật ra, cảm giác là chất liệu (cái thực tồn) của những biểu tượng ấy, qua đó một cái gì hiện hữu thực sự được mang lại cho ta…” - (tr.40&41). Ông chú tâm đề cao “cái thực tồn” - từ đó tránh nguy cơ rơi vào vu khoát, không thực tế.

            Tuy nhiên, I. Kant lưu ý, không bao giờ được quên mặt chủ quan biểu hiện cảm xúc của tính chất thẩm mỹ nơi biểu tượng phản ánh đối tượng: “Trong khi đó, [yếu tố] chủ quan nơi một biểu tượng nhưng không thể trở thành bộ phận cấu thành của nhận thức được, chính là sự vui sướng hay không vui sướng gắn với biểu tượng ấy. Bởi thông qua nó, tôi không nhận được gì hết về đối tượng của biểu tượng, dù xúc cảm ấy hoàn toàn có thể là hậu quả của một nhận thức bất kỳ nào đó” - (tr.42). Đến đây, I. Kant có đủ điều kiện để đẩy xa hơn sự diễn giải giàu sức thuyết phục của mình bằng cách nối kết tính chủ quan với phán đoán hợp mục đích về đối tượng: “Như thế, tính hợp mục đích - đi trước nhận thức về một đối tượng, thậm chí độc lập với ý muốn sử dụng biểu tượng về đối tượng nhằm mục đích nhận thức nhưng lại trực tiếp gắn liền với biểu tượng ấy - chính là mặt chủ quan của biểu tượng và - Ông chủ ý nhấn mạnh -  không thể trở thành yếu tố cấu thành của nhận thức. Nên ở đây, sở dĩ một đối tượng được gọi là ‘có tính hợp mục đích’ là vì biểu tượng về nó trực tiếp gắn liền với tình cảm vui sướng; và biểu tượng này chính là một biểu tượng thẩm mỹ về tính hợp mục đích” - (tr.42). Có thể nói ngắn gọn rằng: tính chủ quan mang biểu tượng thẩm mỹ chính là tính hợp mục đích của đối tượng.

                                                                                                                                     Đà Lạt, ngày 21/5/2013 

..........................

(*) Do Bùi Văn Nam Sơn dịch, Nxb Văn học, 2004.